TICForAll — Thử nghiệm, Giám định, Chứng nhận
Home Theo Bộ/ngành Bộ Khoa học & Công nghệ Nghị định 22/2026/NĐ-CP: bố cục và hai chương về đánh giá...

[Việt Nam] Nghị định 22/2026/NĐ-CP: bố cục và hai chương về đánh giá sự phù hợp

Bàn thử nghiệm và bàn hồ sơ trong phòng đánh giá sự phù hợp: buồng thử khí hậu, hồ sơ để trắng, bảng kiểm với các ô trống, thước cặp điện tử, con dấu tròn không nhãn, đèn lúp và hộp mẫu carton, nền xám, ánh sáng đều

Nghị định 22/2026/NĐ-CP ngày 16/01/2026 quy định chi tiết một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (số 68/2006/QH11, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 70/2025/QH15) và đặt khung pháp lý mới cho hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam. Văn bản có 71 điều, áp dụng với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hoạt động liên quan tại Việt Nam, hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Bài viết tóm lược bố cục của Nghị định và tập trung vào hai phần được doanh nghiệp, phòng thử nghiệm, tổ chức chứng nhận tra cứu nhiều nhất: Chương IV về đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (Điều 37 đến 41) và Chương V về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp (Điều 42 đến 64).

1. Nghị định 22/2026/NĐ-CP quy định những gì

Theo Điều 1, phạm vi điều chỉnh gồm quy định chi tiết nhiều điều của Luật và biện pháp thi hành về công bố tiêu chuẩn áp dụng, đăng ký quy chuẩn kỹ thuật, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Điều 69 cho các văn bản hết hiệu lực, trong đó có Nghị định 127/2007/NĐ-CP, Nghị định 78/2018/NĐ-CP, Nghị định 107/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp, Điều 3 Nghị định 154/2018/NĐ-CP và một số điều, mục của Nghị định 133/2025/NĐ-CP.

Điều 70 quy định chuyển tiếp: tổ chức đánh giá sự phù hợp và tổ chức công nhận đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày Nghị định có hiệu lực tiếp tục hoạt động đến hết thời hạn ghi trên Giấy chứng nhận; hồ sơ đã được tiếp nhận nhưng chưa giải quyết xong được xử lý theo quy định tại thời điểm tiếp nhận.

2. Bố cục Nghị định theo nhóm nội dung

Nhóm nội dung Điều
Quy định chung: phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ 1–3
Tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn cơ sở và công bố tiêu chuẩn áp dụng 4–25
Quy chuẩn kỹ thuật: xây dựng, ban hành, đăng ký, đính chính 26–36
Chương IV: đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 37–41
Chương V: điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp 42–64
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân 65–68
Hiệu lực thi hành, quy định chuyển tiếp, trách nhiệm thi hành 69–71

Điều 3 giải thích các khái niệm dùng xuyên suốt Chương V: thử nghiệm viên, giám định viên, chuyên gia đánh giá của tổ chức chứng nhận, tổ chức thực hiện xác nhận giá trị sử dụng, tổ chức kiểm tra xác nhận và tổ chức công nhận. Điều 3 định nghĩa ngày công là đơn vị tính thời gian làm việc của chuyên gia đánh giá, quy đổi tương đương 8 giờ, bao gồm họp khai mạc, xem xét tài liệu, trao đổi thông tin, thu thập và xác minh dữ liệu, đưa ra phát hiện đánh giá, chuẩn bị kết luận và họp kết thúc.

3. Chương IV: đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật

Chương IV gồm 5 điều, xử lý ba nhóm nội dung: công bố hợp chuẩn và công bố hợp quy; dấu hợp chuẩn và dấu hợp quy; thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp.

3.1. Công bố hợp chuẩn và công bố hợp quy (Điều 37)

Công bố hợp chuẩn là hoạt động tự nguyện (khoản 1 Điều 37). Tổ chức, cá nhân tự chọn và liệt kê các tiêu chuẩn áp dụng cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường của mình trong bản thông báo; người chịu trách nhiệm về sản phẩm, hàng hóa phải ký xác nhận; bản công bố được thông báo qua Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; tổ chức, cá nhân phải lưu giữ đầy đủ tài liệu kỹ thuật để cung cấp khi được yêu cầu.

Công bố hợp quy là hoạt động bắt buộc, trừ trường hợp được miễn theo khoản 2 Điều 48 của Luật (khoản 2 Điều 37). Tổ chức, cá nhân phải xác định và liệt kê đầy đủ các quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc phải áp dụng, ký xác nhận vào bản đăng ký và đăng ký qua Cơ sở dữ liệu quốc gia. Khi Cơ sở dữ liệu quốc gia bị lỗi hoặc chưa hoàn thiện hạ tầng thì hồ sơ được nộp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính. Biểu mẫu công bố hợp quy hiện hành nằm trong Thông tư 14/2026/TT-BKHCN, xem bài Biểu mẫu đăng ký công bố hợp quy và báo cáo tự đánh giá.

3.2. Dấu hợp chuẩn và dấu hợp quy (Điều 38)

Dấu hợp chuẩn do tổ chức chứng nhận sự phù hợp cấp cho đối tượng được chứng nhận hợp chuẩn. Dấu hợp quy do tổ chức chứng nhận hợp quy cấp cho sản phẩm, hàng hoá được chứng nhận hợp quy, hoặc do tổ chức, cá nhân công bố hợp quy tự gắn sau khi đã đăng ký công bố hợp quy. Hình dạng, kết cấu và cách thể hiện dấu hợp quy do Bộ Khoa học và Công nghệ quy định; tổ chức, cá nhân tự thể hiện dấu trên sản phẩm, bao gói, tài liệu đã được chứng nhận.

3.3. Chứng nhận hợp chuẩn đối với tiêu chuẩn cơ sở của hội, hiệp hội (Điều 39)

Hội, hiệp hội ngành, nghề hoạt động trong phạm vi toàn quốc được dùng tiêu chuẩn cơ sở của mình để chứng nhận nếu tiêu chuẩn đó đáp ứng bốn yêu cầu tại khoản 2 Điều 39: ưu tiên viện dẫn quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn quốc gia; nếu chưa có thì được viện dẫn tiêu chuẩn quốc tế, khu vực hoặc nước ngoài; có ý kiến bằng văn bản của bộ quản lý ngành, lĩnh vực liên quan và Cơ quan tiêu chuẩn quốc gia; phù hợp với nguyên tắc của TCVN ISO/IEC 17007.

3.4. Thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp (Điều 40 và Điều 41)

Điều 40 quy định thừa nhận lẫn nhau kết quả chứng nhận sự phù hợp, kết quả thử nghiệm và kết quả giám định giữa Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thực hiện các hiệp định thừa nhận lẫn nhau. Thông tư 16/2026/TT-BKHCN hướng dẫn chi tiết nội dung này, xem bài Ký kết và thực hiện thỏa thuận thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp.

Điều 41 quy định thừa nhận đơn phương kết quả đánh giá sự phù hợp của tổ chức nước ngoài trên nguyên tắc khách quan, minh bạch, không phân biệt đối xử và không tạo rào cản kỹ thuật không cần thiết đối với thương mại quốc tế. Trong lĩnh vực mà năng lực thử nghiệm, chứng nhận, giám định trong nước còn hạn chế, Nghị định ưu tiên thừa nhận kết quả của tổ chức đã được công nhận bởi tổ chức công nhận là thành viên ký thoả thuận hoặc thoả ước thừa nhận lẫn nhau của Tổ chức Công nhận các phòng thử nghiệm quốc tế (ILAC), Diễn đàn Công nhận Quốc tế (IAF) và Tổ chức hợp tác Công nhận khu vực Châu Á Thái Bình Dương (APAC). Bộ quản lý ngành, lĩnh vực quyết định việc thừa nhận và giám sát định kỳ hoặc đột xuất để bảo đảm duy trì năng lực kỹ thuật của tổ chức được thừa nhận.

4. Chương V: điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp

Chương V là phần dài nhất của Nghị định, từ Điều 42 đến Điều 64, chia thành 6 mục: điều kiện kinh doanh dịch vụ thử nghiệm, dịch vụ giám định, dịch vụ chứng nhận, dịch vụ xác nhận giá trị sử dụng và kiểm tra xác nhận, dịch vụ công nhận, và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động.

4.1. Năm nhóm dịch vụ và chuẩn năng lực tương ứng

Nhóm dịch vụ Hệ thống quản lý và năng lực theo chuẩn Điều
Thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa ISO/IEC 17025 hoặc tiêu chuẩn chuyên ngành 42–45
Giám định đối tượng trong lĩnh vực tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật ISO/IEC 17020 hoặc tiêu chuẩn chuyên ngành 46–49
Chứng nhận sản phẩm, hàng hóa và chứng nhận hệ thống quản lý ISO/IEC 17065 với chứng nhận sản phẩm; ISO/IEC 17021-1 với chứng nhận hệ thống quản lý 50–53
Xác nhận giá trị sử dụng, kiểm tra xác nhận ISO/IEC 17029 hoặc tiêu chuẩn chuyên ngành, đặc thù 54–57
Công nhận tổ chức đánh giá sự phù hợp ISO/IEC 17011 58–62

4.2. Điều kiện chung và yêu cầu về nhân sự

Bốn nhóm dịch vụ thử nghiệm, giám định, chứng nhận, xác nhận giá trị sử dụng và kiểm tra xác nhận có cấu trúc điều kiện giống nhau: phải là một trong các loại hình tổ chức quy định tại Điều 50 của Luật; có hệ thống quản lý và năng lực hoạt động đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn quốc tế tương ứng; có tối thiểu 06 nhân sự chính thức; riêng hoạt động thử nghiệm phải có máy móc, thiết bị, dụng cụ thử nghiệm, đo lường phù hợp với lĩnh vực đăng ký. Nhân sự chính thức là viên chức hoặc người lao động có hợp đồng lao động thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên, hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Nhóm dịch vụ Nhân sự tối thiểu Điều kiện chuyên môn Điều
Thử nghiệm 06 thử nghiệm viên Tốt nghiệp cao đẳng trở lên với chuyên ngành phù hợp lĩnh vực đăng ký; được đào tạo về ISO/IEC 17025 và về thiết bị, phương pháp, quy trình thử nghiệm 42
Giám định 06 giám định viên Tốt nghiệp cao đẳng trở lên, chuyên môn phù hợp với sản phẩm, hàng hóa giám định; được đào tạo về ISO/IEC 17020; có ít nhất 02 năm trực tiếp thực hiện giám định với tối thiểu 20 cuộc giám định đã được tổ chức xác nhận 46
Chứng nhận sản phẩm, hệ thống quản lý 06 chuyên gia đánh giá Tốt nghiệp đại học trở lên; được đào tạo kỹ năng đánh giá chứng nhận theo khung chương trình do Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn; có kinh nghiệm đánh giá ít nhất 20 ngày công với chương trình chứng nhận tương ứng 50
Xác nhận giá trị sử dụng, kiểm tra xác nhận 06 chuyên gia Tốt nghiệp đại học trở lên, chuyên môn phù hợp; được đào tạo kỹ năng đánh giá về xác nhận giá trị sử dụng, kiểm tra xác nhận; có ít nhất 02 năm kinh nghiệm liên quan và tham gia tối thiểu 20 ngày công thực hiện hoạt động này 54
Công nhận tổ chức đánh giá sự phù hợp 06 chuyên gia đánh giá, trong đó có 01 chuyên gia đánh giá trưởng cho mỗi chương trình công nhận Chuyên gia đánh giá trưởng có ít nhất 02 năm, chuyên gia đánh giá có ít nhất 01 năm kinh nghiệm liên quan quản lý chất lượng và đánh giá năng lực tổ chức đánh giá sự phù hợp; hoàn thành khóa đào tạo và đạt yêu cầu về đánh giá công nhận; đã thực hiện ít nhất 05 cuộc đánh giá công nhận dưới sự giám sát của chuyên gia đánh giá trưởng đã được phê duyệt 58

Khi bổ sung lĩnh vực hoạt động, mức nhân sự tối thiểu cho mỗi lĩnh vực đăng ký thêm là 01 thử nghiệm viên với hoạt động thử nghiệm, và 02 nhân sự với hoạt động giám định, chứng nhận, xác nhận giá trị sử dụng, kiểm tra xác nhận hoặc công nhận. Với chương trình chứng nhận hệ thống quản lý mới, chuyên gia đánh giá có thể dùng 20 ngày công ở chương trình có cùng bản chất, cùng lĩnh vực, hoặc 05 ngày công với chính chương trình đăng ký; với chương trình chứng nhận sản phẩm mới, mức thay thế là 05 ngày công cho sản phẩm có cùng chủng loại, công nghệ hoặc phương pháp thử nghiệm.

Tổ chức công nhận chịu thêm hai yêu cầu tại Điều 58: người thành lập, quản lý, điều hành tổ chức công nhận không được đồng thời tham gia quản lý, điều hành hoặc góp vốn vào tổ chức đánh giá sự phù hợp trong cùng lĩnh vực được công nhận; và tổ chức công nhận phải là thành viên đã ký kết thỏa thuận, thỏa ước thừa nhận lẫn nhau của ILAC, IAF hoặc APAC cho các chương trình, lĩnh vực công nhận đăng ký.

4.3. Hồ sơ, hình thức nộp, trình tự và thời hạn

Cơ quan tiếp nhận hồ sơ với bốn nhóm dịch vụ thử nghiệm, giám định, chứng nhận, xác nhận giá trị sử dụng và kiểm tra xác nhận là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi tổ chức đặt trụ sở chính; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cơ quan chuyên môn trực thuộc tiếp nhận hồ sơ, và nếu lĩnh vực đăng ký thuộc trách nhiệm của từ hai bộ trở lên thì giao một cơ quan chuyên môn làm đầu mối. Hồ sơ đăng ký hoạt động công nhận do Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp nhận.

Hồ sơ cấp mới gồm đơn đăng ký theo mẫu (Mẫu số 01 với bốn nhóm dịch vụ, Mẫu số 11 với tổ chức công nhận), tài liệu về từng nhân sự, danh mục máy móc, thiết bị, dụng cụ theo Mẫu số 04 với hoạt động thử nghiệm. Tài liệu chứng minh năng lực phụ thuộc tình trạng công nhận: nếu toàn bộ phạm vi đăng ký đã được công nhận thì nộp bản sao chứng chỉ công nhận kèm phạm vi được công nhận; nếu phạm vi đăng ký rộng hơn phạm vi được công nhận thì nộp thêm bản công bố năng lực theo Mẫu số 17 cho phần chưa được công nhận; nếu chưa được công nhận thì nộp bản công bố năng lực theo Mẫu số 17. Hồ sơ nộp trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia; khi Cổng bị lỗi hoặc thủ tục chưa hoàn thiện hạ tầng thì nộp hồ sơ giấy trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.

Về thời hạn, trong 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung nếu hồ sơ chưa đầy đủ; trong 07 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan tiếp nhận cấp Giấy chứng nhận. Giấy chứng nhận có hiệu lực tối đa 05 năm kể từ ngày cấp và bản điện tử có giá trị pháp lý như bản giấy. Với cấp lại do thay đổi tên, địa chỉ hoặc do bản giấy bị mất, hư hỏng, thời hạn giải quyết là 03 ngày làm việc. Khi gia hạn, khoản 5 Điều 43 yêu cầu tổ chức thử nghiệm gửi hồ sơ như cấp mới trước khi Giấy chứng nhận hết hiệu lực 90 ngày; nhân sự đã có hồ sơ ở lần đăng ký trước và vẫn đáp ứng điều kiện thì được bảo lưu bằng văn bản.

4.4. Tổ chức công nhận thành lập tại nước ngoài thực hiện công nhận tại Việt Nam (Điều 62)

Điều 62 cho phép tổ chức công nhận thành lập tại nước ngoài thực hiện hoạt động công nhận ở Việt Nam khi là thành viên đã ký kết tham gia thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau của các tổ chức công nhận khu vực hoặc quốc tế. Trước khi đánh giá công nhận tổ chức đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam, tổ chức công nhận phải thông báo cho Bộ Khoa học và Công nghệ ít nhất 20 ngày và báo cáo kết quả sau khi thực hiện đánh giá. Tổ chức không tuân thủ các quy định này thì chứng chỉ công nhận không được thừa nhận tại Việt Nam.

4.5. Thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động (Điều 63 và Điều 64)

Tổ chức đánh giá sự phù hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận trong 8 trường hợp tại khoản 1 Điều 63: vi phạm quy định tại khoản 6 Điều 8 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; vi phạm 02 lần liên tiếp các quy định về đánh giá sự phù hợp; không thực hiện đầy đủ trách nhiệm tại Điều 68 trong 02 năm; không bảo đảm một trong các điều kiện tại Điều 42, Điều 46, Điều 50 hoặc Điều 54; giả mạo hoặc khai man tài liệu trong hồ sơ; tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung Giấy chứng nhận; không khắc phục vi phạm theo yêu cầu của cơ quan thanh tra, kiểm tra; và theo đề nghị của tổ chức. Thẩm quyền thu hồi thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố với lĩnh vực được phân cấp và Bộ Khoa học và Công nghệ với lĩnh vực được phân công. Tổ chức bị thu hồi chỉ được xem xét cấp lại tối thiểu sau 06 tháng kể từ thông báo thu hồi và sau khi đã khắc phục vi phạm.

Tổ chức công nhận bị thu hồi Giấy chứng nhận trong 5 trường hợp tại khoản 1 Điều 64, gồm vi phạm 02 lần liên tiếp các quy định tại khoản 2 Điều 55 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và các quy định của Nghị định; không đáp ứng một trong các điều kiện tại Điều 58; giả mạo hoặc khai man tài liệu trong hồ sơ; tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung Giấy chứng nhận; và theo đề nghị của tổ chức công nhận. Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định thu hồi; thời gian chờ để đăng ký lại là 02 năm kể từ thông báo thu hồi.

5. Nghĩa vụ báo cáo và cập nhật dữ liệu theo Điều 68

Điều 68 là nghĩa vụ dễ bị bỏ qua nhất sau khi tổ chức đã có Giấy chứng nhận. Tổ chức đánh giá sự phù hợp cập nhật, công khai kết quả hoạt động đánh giá sự phù hợp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng theo định kỳ hằng tuần, và cập nhật thông tin khi có thay đổi trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày phát sinh thay đổi. Tổ chức công nhận cập nhật kết quả hoạt động công nhận theo định kỳ trước ngày 20 hằng tháng, cũng với thời hạn 15 ngày cho mỗi thay đổi. Cả hai loại tổ chức chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, khách quan, trung thực của kết quả đánh giá sự phù hợp.

6. Đọc kèm các bài liên quan

7. Nguồn tham khảo

  • Nghị định số 22/2026/NĐ-CP ngày 16/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, hiệu lực kể từ ngày ký ban hành: vanban.chinhphu.vn; bản PDF.
  • Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 70/2025/QH15.
  • Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23/01/2026 của Chính phủ; Thông tư số 14/2026/TT-BKHCN và Thông tư số 16/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Trao đổi thêm

    Bài viết này là diễn giải của chúng tôi nhằm phổ biến kiến thức pháp luật, không phải văn bản quy phạm pháp luật và không thay thế tư vấn pháp lý. Nội dung được trình bày lại theo Nghị định số 22/2026/NĐ-CP ngày 16/01/2026 của Chính phủ; số điều, khoản cần được đối chiếu với bản văn bản gốc trước khi dùng cho hợp đồng, hồ sơ hoặc tư vấn, vì các văn bản viện dẫn có thể được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ.