TICForAll — Thử nghiệm, Giám định, Chứng nhận
Home Theo Bộ/ngành Bộ Tài chính Phân loại hàng hóa và phân tích để phân loại theo...

[Việt Nam] Phân loại hàng hóa và phân tích để phân loại theo Thông tư 85/2026/TT-BTC

Bàn kiểm nghiệm với hũ mẫu bột khoáng, bộ sàng và cân phân tích, không có chữ

Từ ngày 15 tháng 9 năm 2026, việc phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và việc phân tích để phân loại được điều chỉnh bởi Thông tư 85/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính, thay cho Thông tư 14/2015/TT-BTC và Thông tư 17/2021/TT-BTC. Văn bản mới giữ nguyên khung nguyên tắc đã quen thuộc, nhưng đổi ba chỗ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp: vị trí của tiêu chuẩn kỹ thuật trong việc xác định mã số, ba đường để có một kết quả phân tích, và các mốc thời gian gắn với lấy mẫu, lưu mẫu, khiếu nại. Bài viết đi theo trình tự thực tế của một lô hàng: xác định mã, lấy mẫu, chờ kết quả, xử lý khi không đồng ý với kết quả.

1. Thông tư 85/2026 thay thế hai văn bản và đổi ba chỗ

Thông tư 85/2026/TT-BTC ngày 30 tháng 6 năm 2026 có hiệu lực từ ngày 15 tháng 9 năm 2026, thay thế Thông tư 14/2015/TT-BTC và Thông tư 17/2021/TT-BTC. Văn bản gồm 17 điều và một phụ lục năm mẫu biểu.

Nội dung Thông tư 14/2015/TT-BTC Thông tư 85/2026/TT-BTC
Phạm vi Phân loại, phân tích để phân loại, phân tích để kiểm tra chất lượng và an toàn thực phẩm Phân loại, phân tích để phân loại, xây dựng và sử dụng cơ sở dữ liệu Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam
Định nghĩa phân tích Gắn với mục đích phân loại Tách hai nhánh: xác định thành phần, cấu tạo, tính chất lý hóa, công dụng; và kiểm tra, đánh giá tiêu chí kỹ thuật
Căn cứ xác định mã số Danh mục và tài liệu hướng dẫn Bổ sung tầng tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn do cơ quan có thẩm quyền ban hành
Thời hạn thông báo Quy định rải trong văn bản và văn bản sửa đổi Tập trung tại Điều 12, tách theo ba tình huống
Mẫu biểu Bộ mẫu cũ Năm mẫu mới, ký hiệu 2026

Điểm cần lưu ý: Thông tư 85/2026 không còn là văn bản về phân tích để kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu. Việc kiểm tra chất lượng theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP và các quy chuẩn kỹ thuật đi theo đường riêng. Thông tư chỉ giữ phần phân tích phục vụ phân loại, nhưng trong định nghĩa vẫn mở nhánh kiểm tra, đánh giá tiêu chí kỹ thuật, và hai nhánh dùng chung một quy trình lấy mẫu.

2. Một mặt hàng, một mã số

Điều 4 đặt nguyên tắc nền: một mặt hàng có một mã số duy nhất theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam. Khi phân loại phải tuân thủ đồng thời Điều 26 Luật Hải quan số 54/2014/QH13, Điều 16 Nghị định 08/2015/NĐ-CP, Danh mục hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu Việt Nam, Biểu thuế xuất khẩu và Biểu thuế nhập khẩu, sáu quy tắc tổng quát giải thích Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa, và các hướng dẫn tại chính Thông tư.

Điều 5 nối kết quả phân loại với hai hệ quả. Thứ nhất, đó là căn cứ áp dụng chính sách quản lý hàng hóa: danh mục cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu theo giấy phép, và danh mục hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành, tất cả theo hiệu lực tại thời điểm đăng ký tờ khai. Thứ hai, đó là căn cứ áp mức thuế theo các biểu thuế có hiệu lực tại thời điểm đăng ký tờ khai. Cách diễn đạt này khép lại một tranh luận kéo dài: mã số đúng nhưng rơi vào danh mục kiểm tra chuyên ngành thì vẫn phải kiểm tra chuyên ngành.

3. Điều 6: thứ tự tra cứu khi chưa chốt được mã

Điều 6 giữ cấu trúc cũ nhưng sắp xếp lại thành bốn bước, và đây là phần nên đọc trước khi viết công văn hỏi hải quan.

Bước Tài liệu Khi nào dùng
1 Chú giải chi tiết Danh mục HS Xác định phạm vi Phần, Chương, Nhóm, Phân nhóm
2 Tuyển tập ý kiến phân loại của WCO Hàng hóa đã có quyết định phân loại được Ủy ban HS thông qua
3 Chú giải bổ sung Danh mục AHTN (SEN) Phân nhóm do ASEAN xây dựng, khác biệt so với HS
4 Cơ sở dữ liệu Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam Đối chiếu các trường hợp đã xác định trước và đã thông báo kết quả

Ba tình huống đặc biệt nằm ngay sau đó. Nếu mô tả hàng hóa tại Danh mục Việt Nam khác mô tả theo Danh mục HS hoặc AHTN thì áp dụng trực tiếp mô tả theo HS hoặc AHTN, theo nguyên tắc thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Nếu hàng hóa có mã số tại Danh mục hàng hóa quản lý chuyên ngành khác mã số xác định theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam thì thực hiện theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam và pháp luật về hải quan. Nếu mặt hàng phức tạp, khó phân loại, Cục trưởng Cục Hải quan ban hành văn bản hướng dẫn phân loại trên cơ sở ý kiến của bộ quản lý chuyên ngành, Ủy ban HS của WCO hoặc Nhóm kỹ thuật về phân loại hàng hóa của ASEAN, và việc phân loại thực hiện kể từ ngày văn bản hướng dẫn được ban hành.

Điều khoản cuối này là điểm ma sát thường gặp. Khi có văn bản hướng dẫn mới, hàng đã thông quan theo cách hiểu cũ không bị hồi tố, nhưng lô tiếp theo phải áp dụng ngay. Doanh nghiệp nhập cùng một model trong nhiều tháng nên theo dõi trang thông tin của Cục Hải quan.

4. Tiêu chuẩn kỹ thuật trở thành căn cứ xác định mã số

Trường hợp thực hiện quy định tại Điều 4 và khoản 1 Điều 6 Thông tư này chưa đủ cơ sở để xác định tên gọi, mô tả hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam thì được sử dụng các tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn do cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền ban hành theo quy định để làm cơ sở xác định tên gọi, mô tả hàng hóa, mã số theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

Khoản 3 Điều 6, Thông tư 85/2026/TT-BTC

Đây là thay đổi có hệ quả lớn nhất với doanh nghiệp trong ngành thử nghiệm. Trước đây, khi mô tả hàng hóa trong Danh mục không đủ để chốt mã, con đường duy nhất là xin ý kiến hoặc chờ hướng dẫn. Nay tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật và cả tiêu chí do tổ chức có thẩm quyền ban hành trở thành căn cứ pháp lý để xác định tên gọi và mã số. Kết quả đo một chỉ tiêu kỹ thuật có thể quyết định mã số, và do đó quyết định mức thuế.

Mặt hàng Chỉ tiêu quyết định mã Cách phân tách
Bột zircon Hàm lượng ZrO2, cỡ hạt Đạt ngưỡng hàm lượng và cỡ hạt mới thuộc mã dành cho sản phẩm chế biến, dưới ngưỡng thì xếp theo quặng
Tinh quặng fluorit Hàm lượng CaF2 Tách thành hai mã, một mã cho khoảng dưới 97 phần trăm và một mã cho trên 97 phần trăm
Đá hoa trắng Cỡ hạt và độ trắng Ba mã riêng cho ba khoảng cỡ hạt, mỗi khoảng gắn với một ngưỡng độ trắng
Xăng động cơ không pha chì Trị số octan (RON) Tách theo RON 97 trở lên, RON 90 đến dưới 97, và RON khác

Các ví dụ trong bảng lấy từ danh mục chi tiết theo mã HS ban hành kèm một số thông tư của Bộ Công Thương, hiện được hợp nhất tại văn bản hợp nhất số 74/2026/VBHN-BCT. Trong các danh mục này, mã số và ngưỡng chất lượng nằm cạnh nhau trong cùng một dòng. Với doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản, việc chọn mã không còn là câu hỏi về mô tả hàng hóa mà là câu hỏi về kết quả phân tích, và kết quả đó phải đến từ phòng thử nghiệm được công nhận.

5. Ba đường để có một kết quả phân tích

Điều 3 trả lời câu hỏi ai được làm và ai được dùng kết quả. Có ba đường, khác nhau về chủ thể, căn cứ và rủi ro.

Đường Chủ thể và căn cứ Rủi ro doanh nghiệp phải tính
Hải quan tự phân tích Cơ quan kiểm định hải quan phân tích khi không đủ cơ sở xác định tính chính xác việc phân loại của người khai, theo khoản 5 Điều 29 Nghị định 08/2015/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định 167/2025/NĐ-CP Kết quả do cơ quan hải quan ban hành, doanh nghiệp chỉ có quyền giải trình và khiếu nại
Hải quan trưng cầu bên ngoài Khi cơ quan kiểm định hải quan chưa đủ điều kiện phân tích một số chỉ tiêu kỹ thuật, hoặc cần phân tích kiểm chứng, thì sử dụng dịch vụ của tổ chức giám định, thử nghiệm theo quy định pháp luật Thời gian phụ thuộc đơn vị được trưng cầu; doanh nghiệp không chọn được đơn vị
Người khai tự dùng dịch vụ giám định Người khai hải quan được dùng dịch vụ giám định của tổ chức giám định, hoặc dùng cơ sở dữ liệu Danh mục, để xác định thành phần, tính chất lý hóa, tính năng, công dụng Doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về tính chính xác và hợp pháp của tài liệu đã cung cấp

Đường thứ ba là chỗ hay hiểu sai. Thông tư cho phép dùng dịch vụ giám định để chuẩn bị hồ sơ, nhưng không biến kết quả đó thành phán quyết: kết quả vẫn có thể bị cơ quan kiểm định hải quan kiểm tra lại, và nếu khác thì cơ quan hải quan ban hành thông báo theo kết quả của mình. Giá trị thực tế của đường thứ ba nằm ở chỗ khác, là giúp doanh nghiệp chốt mã trước khi mở tờ khai thay vì phát hiện sai sau khi hàng đã về. Với hàng có mức thuế chênh lệch lớn giữa hai mã liền kề, một kết quả phân tích trước khi khai thường rẻ hơn nhiều so với việc bị truy thu sau thông quan.

Khoản 11 Điều 2 còn nói rõ: giám định, thử nghiệm hàng hóa là việc cơ quan hải quan trưng cầu tại các tổ chức giám định, thử nghiệm theo quy định pháp luật để xác định cấu tạo, thành phần, tính chất lý hóa, công dụng, nhằm xác định tên hàng và mã số. Tổ chức được trưng cầu phải hoạt động đúng theo pháp luật về giám định thương mại và về lĩnh vực thử nghiệm tương ứng.

6. Lấy mẫu: hai mẫu, niêm phong, và chỗ dễ mất quyền

Điều 11 đặt ra một chuỗi nghĩa vụ khá chặt. Người khai hải quan có trách nhiệm xuất trình hàng hóa để cơ quan hải quan lấy mẫu. Mẫu phải lấy từ chính lô hàng cần phân tích, mang tính đại diện, đủ số lượng và khối lượng để phục vụ cả việc trưng cầu giám định lẫn việc giải quyết khiếu nại về sau. Số lượng mẫu là hai; trường hợp người khai chỉ nhập khẩu một mẫu thì không thực hiện lấy mẫu. Khi lấy mẫu phải có đại diện của người khai, các bên ký xác nhận và niêm phong riêng từng mẫu, khi bàn giao phải có biên bản. Nếu vắng mặt người khai, cơ quan hải quan vẫn lấy mẫu nhưng phải có chứng kiến của doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi, hoặc cơ quan nhà nước tại khu vực cửa khẩu, hoặc đại diện doanh nghiệp vận tải. Mẫu chỉ có giá trị pháp lý khi còn nguyên niêm phong.

Ba mốc dễ mất quyền nhất nằm ở khoản 3. Thứ nhất, mẫu được lưu 120 ngày kể từ ngày ban hành thông báo kết quả phân tích, phân loại hoặc thông báo kết quả kiểm tra, đánh giá tiêu chí kỹ thuật. Thứ hai, trong chính 120 ngày đó, nếu doanh nghiệp không đồng ý với kết quả và đề nghị giám định tại tổ chức có chức năng hoặc khiếu nại thì cơ quan kiểm định hải quan tiếp tục lưu mẫu cho đến khi có quyết định giải quyết khiếu nại, nên quyền khiếu nại chỉ dùng được nếu mẫu còn. Thứ ba, nếu doanh nghiệp yêu cầu trả lại mẫu trong thời hạn lưu mẫu và đã công nhận kết quả phân tích thì không được khiếu nại về kết quả đó nữa. Yêu cầu trả mẫu là quyền, nhưng đi kèm hệ quả chấm dứt tranh chấp.

7. Thời hạn và giá trị pháp lý của thông báo kết quả

Điều 12 giao việc ban hành thông báo cho Đội trưởng Đội Kiểm định hải quan và đặt ba mốc thời gian khác nhau, phụ thuộc vào việc có phải trưng cầu bên ngoài hay không.

Tình huống Thời hạn ban hành thông báo
Phân tích thông thường Không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ và mẫu
Mẫu phức tạp, thời gian phụ thuộc quy trình kỹ thuật Không quá 20 ngày làm việc
Phải xin ý kiến bộ quản lý chuyên ngành, Ủy ban HS của WCO, Nhóm kỹ thuật ASEAN, hoặc xác minh tại cơ sở sản xuất Không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lời hoặc kết quả xác minh
Trưng cầu giám định, thử nghiệm tại tổ chức bên ngoài Không quá 05 ngày làm việc, mẫu phức tạp thì không quá 08 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả

Thông báo kết quả phân tích, phân loại và thông báo kết quả kiểm tra, đánh giá tiêu chí kỹ thuật là cơ sở để xác định mức thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa, được cập nhật vào cơ sở dữ liệu của cơ quan hải quan, và được công khai trên trang thông tin điện tử của Cục Hải quan, trừ phần phụ lục. Việc công khai này có giá trị thực dụng: trước khi khai một mặt hàng khó, doanh nghiệp có thể tra xem đã có thông báo nào cho mặt hàng tương tự hay chưa. Nếu không đồng ý với thông báo, doanh nghiệp có hai lối: khiếu nại theo Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13, hoặc trưng cầu giám định theo Điều 30 Nghị định 08/2015/NĐ-CP. Hai lối khác nhau về hệ quả, nên cần chọn trước khi hết thời hạn lưu mẫu.

8. Máy liên hợp và máy tháo rời: chọn cách phân loại trước khi mở tờ khai

Điều 7 và Điều 8 giải quyết hai tình huống rất phổ biến với doanh nghiệp nhập thiết bị. Với máy liên hợp hoặc tổ hợp máy thuộc Chương 84, Chương 85 và Chương 90, nhập từ một nguồn hoặc nhiều nguồn cung cấp, về nhiều chuyến, làm thủ tục tại một hoặc nhiều đơn vị hải quan khác nhau, người khai hải quan được lựa chọn phân loại theo từng máy móc, thiết bị, hoặc theo Chú giải pháp lý 3, 4, 5 Phần XVI của Danh mục. Với máy móc, thiết bị ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời do yêu cầu đóng gói, bảo quản hoặc vận chuyển, việc phân loại theo quy tắc 2a trong sáu quy tắc tổng quát.

Chọn cách nào thì hệ quả thủ tục khác nhau. Chọn phân loại theo từng máy thì mỗi máy có mã riêng và mức thuế riêng, không cần đăng ký Danh mục. Chọn phân loại theo Phần XVI, tức là coi cả tổ hợp là một mặt hàng, thì phải đăng ký Danh mục máy móc, thiết bị và theo dõi trừ lùi: hồ sơ gồm Danh mục theo mẫu 01/ĐKDMTB/2025 và phiếu theo dõi trừ lùi theo mẫu 02/PTDTL-DMTB/2025 tại Phụ lục V Thông tư 121/2025/TT-BTC, nộp trước khi đăng ký tờ khai lô hàng đầu tiên, cơ quan hải quan xác nhận trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc.

Hai rủi ro nghiệp vụ nằm ở đây. Thứ nhất, nếu làm thủ tục nhập khẩu tại cơ quan hải quan khác với nơi đăng ký Danh mục thì phải xuất trình bản chính Danh mục kèm phiếu theo dõi trừ lùi; mất bản chính là mất khả năng trừ lùi tại chỗ. Thứ hai, mất phiếu theo dõi trừ lùi thì doanh nghiệp tự lập phiếu mới, tự kê khai số tờ khai và số lượng đã nhập, và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cơ quan hải quan chỉ đối chiếu với dữ liệu trên hệ thống, nên sai một dòng trong phiếu là sai lệch toàn bộ chuỗi trừ lùi.

9. Chuyển tiếp và những việc nên rà lại ngay

Điều 16 có hai khoản chuyển tiếp. Với hàng hóa thuộc tờ khai đã đăng ký và đã lấy mẫu để phân tích, giám định, thử nghiệm nhưng đến ngày Thông tư có hiệu lực chưa có kết quả, việc phân loại, lấy mẫu, gửi mẫu, lưu mẫu, phân tích và giám định tiếp tục thực hiện theo pháp luật áp dụng trước ngày Thông tư có hiệu lực. Với Danh mục máy liên hợp hoặc tổ hợp máy thuộc Chương 84, 85, 90 và các chi tiết, linh kiện rời đã đăng ký trước ngày Thông tư có hiệu lực, doanh nghiệp tiếp tục thực hiện theo Thông tư 14/2015/TT-BTC cho đến khi nhập hết hàng theo Danh mục.

Khoản thứ hai tạo ra hai chế độ chạy song song trong cùng một doanh nghiệp: Danh mục cũ theo văn bản cũ, Danh mục mới theo văn bản mới. Với tổ hợp máy đăng ký trước 15 tháng 9 năm 2026 còn nhập dở, doanh nghiệp phải biết rõ mình đang ở chế độ nào trước khi mở Danh mục cho một tổ hợp khác.

  • Rà lại các Danh mục máy móc, thiết bị còn hiệu lực và xác định Danh mục nào thuộc diện chuyển tiếp.
  • Kiểm tra các tờ khai đã lấy mẫu trước 15 tháng 9 năm 2026 mà chưa có thông báo kết quả, ghi rõ văn bản áp dụng cho từng trường hợp.
  • Đối chiếu danh sách mặt hàng thường xuyên nhập với các danh mục chi tiết theo mã HS của Bộ Công Thương, tìm những dòng có kèm ngưỡng chất lượng.
  • Với mặt hàng nằm sát ngưỡng, chuẩn bị kết quả phân tích trước khi khai thay vì sau khi bị kiểm tra.
  • Rà lại quy trình lấy mẫu nội bộ, bảo đảm luôn có người đại diện chứng kiến và biên bản bàn giao mẫu.
  • Theo dõi trang thông tin điện tử của Cục Hải quan để cập nhật thông báo kết quả phân loại mới.

Điều 17 giao Cục trưởng Cục Hải quan ban hành quy trình phân loại hàng hóa, quy trình phân tích phân loại và kiểm tra, đánh giá tiêu chí kỹ thuật, cùng quy chế xây dựng, thu thập, cập nhật cơ sở dữ liệu. Doanh nghiệp nên đọc các quy trình này cùng với Thông tư, vì phần lớn chi tiết thao tác nằm ở đó chứ không nằm trong văn bản luật.

Đọc kèm

Nguồn

  • Thông tư số 85/2026/TT-BTC ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về phân loại hàng hóa, phân tích để phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, hiệu lực từ ngày 15 tháng 9 năm 2026.
  • Thông tư số 14/2015/TT-BTC và Thông tư số 17/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính, đã được thay thế.
  • Nghị định số 08/2015/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 167/2025/NĐ-CP.
  • Luật Hải quan số 54/2014/QH13, Điều 26.
  • Văn bản hợp nhất số 74/2026/VBHN-BCT hợp nhất Thông tư số 41/2019/TT-BCT về danh mục chi tiết theo mã số HS.

    Bài viết nhằm lan tỏa kiến thức về tiêu chuẩn, quy định và thủ tục xuất nhập khẩu, không thay thế văn bản pháp luật và không phải ý kiến tư vấn cho một trường hợp cụ thể. Doanh nghiệp nên đối chiếu văn bản gốc và hướng dẫn của cơ quan hải quan trước khi áp dụng.