Nghị định 37/2026/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa đã đưa hoạt động đánh giá sự phù hợp phục vụ quản lý nhà nước sang một khuôn khổ mới, trong đó “được chỉ định” trở thành điều kiện bắt buộc để một phòng thử nghiệm, tổ chức chứng nhận, tổ chức giám định hoặc tổ chức kiểm tra xác nhận được tham gia vào chuỗi đánh giá sự phù hợp cho sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Trước đây, doanh nghiệp thường hiểu hoạt động này như một thủ tục hành chính riêng lẻ của từng bộ, mỗi nơi một cách. Nghị định 37/2026 gom lại thành một chương trình tự thống nhất: điều kiện năng lực, hồ sơ, trình tự, thời hạn, nghĩa vụ duy trì và căn cứ thu hồi.
Bài viết này là phần tổng hợp và phân tích của chúng tôi đối với Mục 2 Chương VI (Điều 71 đến Điều 77) của Nghị định, kết hợp với kinh nghiệm làm việc thực tế với các phòng thử nghiệm và tổ chức chứng nhận tại Việt Nam. Nội dung gồm bốn phần chính: ai được chỉ định và ai chỉ định; điều kiện năng lực theo từng loại hình tổ chức; hồ sơ, trình tự và thời hạn; và những nghĩa vụ phát sinh sau khi đã được chỉ định, kể cả trường hợp bị thu hồi.
Trước khi đi vào chi tiết, cần nói rõ một nguyên tắc: Nghị định 37/2026/NĐ-CP được ký ngày 23/01/2026 và theo Điều 97 khoản 1, Nghị định có hiệu lực kể từ ngày ký; các nghị định cũ trong lĩnh vực này gồm Nghị định 132/2008/NĐ-CP, Nghị định 74/2018/NĐ-CP, Điều 4 Nghị định 154/2018/NĐ-CP và Nghị định 13/2022/NĐ-CP hết hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026. Do đó, doanh nghiệp đang hoạt động đánh giá sự phù hợp và doanh nghiệp đang sử dụng kết quả đánh giá sự phù hợp nên coi các quy định tại Điều 71 đến Điều 77 là khuôn khổ đang áp dụng, không phải văn bản sắp tới.
1. Phạm vi chỉ định: khi nào bắt buộc phải “được chỉ định”
Điều 71 khoản 1 xác định hai điều kiện để một tổ chức đánh giá sự phù hợp được tham gia đánh giá sự phù hợp phục vụ quản lý nhà nước: thứ nhất, tổ chức đã đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; thứ hai, tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ định theo Nghị định này.
Hai điều kiện này không thay thế nhau. Một phòng thử nghiệm có Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm, thậm chí đã được công nhận đúng phạm vi, vẫn chưa đủ để kết quả thử nghiệm của mình được dùng cho mục đích công bố hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, nếu phòng thử nghiệm đó chưa có quyết định chỉ định của bộ quản lý ngành, lĩnh vực tương ứng.
Nghị định cũng giới hạn phạm vi áp dụng của cơ chế chỉ định: việc chỉ định được thực hiện đối với trường hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định yêu cầu tổ chức đánh giá sự phù hợp phải được chỉ định. Nói cách khác, cơ chế chỉ định không áp dụng đại trà cho mọi hoạt động thử nghiệm, chứng nhận, mà gắn với những lĩnh vực mà pháp luật đặt ra yêu cầu đó — thường là những lĩnh vực có sản phẩm thuộc nhóm rủi ro cao và có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng.
Một ví dụ đang áp dụng chính là lĩnh vực trụ sạc, trạm sạc xe điện: QCVN 32:2026/BCT (ban hành kèm Thông tư 61/2026/TT-BCT) đặt ra nghĩa vụ công bố hợp quy đối với trụ sạc và trạm sạc, kèm yêu cầu về phương thức đánh giá sự phù hợp và việc sử dụng kết quả của tổ chức được chỉ định. Chúng tôi đã phân tích quy chuẩn này trong bài QCVN 32:2026/BCT – Quy chuẩn trụ sạc, trạm sạc xe điện: phân tích và những việc cần chuẩn bị trước 01/7/2027.
Đối tượng của chỉ định là năm loại hoạt động được liệt kê tại Điều 71 khoản 2: thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng. Đây là điểm doanh nghiệp hay nhầm: cùng một tổ chức có thể được chỉ định cho một hoặc nhiều loại hình, và phạm vi chỉ định theo từng loại hình là khác nhau, tương ứng với từng quy chuẩn kỹ thuật, từng nhóm sản phẩm và từng phương pháp thử.
| Loại hình | Bản chất công việc | Sản phẩm đầu ra |
|---|---|---|
| Thử nghiệm | Đo, kiểm tra chỉ tiêu kỹ thuật theo phương pháp thử | Phiếu kết quả thử nghiệm |
| Giám định | Xem xét, xác định tình trạng thực tế của đối tượng | Chứng thư giám định |
| Chứng nhận | Đánh giá sự phù hợp của sản phẩm hoặc hệ thống quản lý | Giấy chứng nhận |
| Kiểm tra xác nhận | Kiểm tra, xác nhận lô hàng, đối tượng cụ thể | Kết quả kiểm tra xác nhận |
| Xác nhận giá trị sử dụng | Đánh giá khả năng sử dụng thực tế của sản phẩm, hàng hóa | Kết quả xác nhận giá trị sử dụng |
2. Ai có thẩm quyền chỉ định
Điều 71 khoản 2 giao thẩm quyền chỉ định cho bộ quản lý ngành, lĩnh vực, thực hiện đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao thuộc ngành, lĩnh vực được phân công, theo yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc pháp luật chuyên ngành. Cơ quan được gọi chung là “cơ quan chỉ định”, và trong quá trình giải quyết hồ sơ, cơ quan này phải bảo đảm tổ chức được chỉ định đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật.
Đối với quy chuẩn kỹ thuật địa phương (QCĐP), Điều 71 khoản 6 giao Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thực hiện việc chỉ định tổ chức chứng nhận theo trình tự, thủ tục của Nghị định này và công bố công khai danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định. Đây là điểm đáng lưu ý cho các địa phương có quy chuẩn riêng và cho các tổ chức chứng nhận muốn tham gia thị trường địa phương.
Một cơ chế quản lý quan trọng nằm tại Điều 71 khoản 3: bộ quản lý ngành, lĩnh vực và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có trách nhiệm công bố công khai trên cơ sở dữ liệu của mình, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, và cập nhật định kỳ trước ngày 25 hàng tháng, hai danh sách: danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định; và danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp đơn phương được bộ quản lý ngành, lĩnh vực thừa nhận theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Với doanh nghiệp, quy định này biến một việc trước đây phải hỏi từng nơi thành một việc có thể tra cứu công khai, và quan trọng hơn là tra cứu theo chu kỳ, vì danh sách được cập nhật hàng tháng. Trước khi ký hợp đồng thử nghiệm, chứng nhận cho một lô hàng thuộc nhóm rủi ro cao, việc kiểm tra tên đơn vị cung cấp có nằm trong danh sách được chỉ định đúng phạm vi và còn hiệu lực hay không là bước nên đưa vào quy trình nội bộ.
Điều 71 khoản 4 đặt ra nguyên tắc ưu tiên và thừa nhận kết quả đánh giá năng lực giữa các bộ, gồm bốn nội dung: nếu một bộ quản lý ngành, lĩnh vực đã đánh giá thực tế năng lực và chỉ định một tổ chức, các bộ khác có trách nhiệm xem xét, sử dụng kết quả đánh giá đó trong phạm vi quản lý của mình; việc ưu tiên, xem xét, sử dụng phải bảo đảm không chồng chéo, không làm phát sinh thủ tục hành chính và phù hợp với lĩnh vực chuyên ngành; nếu không đạt được thống nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ liên quan xem xét, đề xuất phương án xử lý thống nhất; và nếu vẫn còn ý kiến khác nhau, Bộ Khoa học và Công nghệ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Trong thực tế, nguyên tắc này có ích nhất với các tổ chức đã được chỉ định ở một lĩnh vực và muốn mở rộng sang lĩnh vực do bộ khác quản lý: thay vì bắt đầu lại từ đầu, tổ chức có thể đề nghị thừa nhận kết quả đánh giá năng lực đã có. Điều 75 khoản 1 điểm b cụ thể hóa nguyên tắc này bằng một mốc thời gian: việc thừa nhận kết quả đánh giá chỉ có giá trị trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ban hành kết quả đánh giá gần nhất.

3. Điều kiện chỉ định theo từng loại hình tổ chức
Điều 72 quy định điều kiện chỉ định theo bốn nhóm: tổ chức thử nghiệm; tổ chức chứng nhận, tổ chức kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng; và tổ chức giám định. Cấu trúc điều kiện có ba lớp chung: giấy chứng nhận đăng ký hoạt động đúng lĩnh vực đăng ký chỉ định; được công nhận bởi tổ chức công nhận đã đăng ký hoạt động đối với phạm vi đăng ký chỉ định; và điều kiện về nhân sự chuyên môn cùng kết quả thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng.
3.1. Tổ chức thử nghiệm
Điều 72 khoản 1 đặt ra bốn điều kiện. Thứ nhất, tổ chức đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, trong đó có lĩnh vực thử nghiệm đăng ký chỉ định. Thứ hai, tổ chức phải được công nhận bởi tổ chức công nhận đã đăng ký hoạt động theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và lĩnh vực được phân công quản lý phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước của bộ quản lý ngành (nếu có) đối với phạm vi đăng ký chỉ định thử nghiệm.
Thứ ba, tổ chức có kết quả tham gia thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng đạt yêu cầu đối với phương pháp thử của sản phẩm, hàng hóa đăng ký chỉ định. Thứ tư, tổ chức có tối thiểu 06 thử nghiệm viên chính thức, có tối thiểu 02 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực thử nghiệm đăng ký chỉ định.
Định nghĩa “chính thức” ở đây được Nghị định nêu rõ và doanh nghiệp cần đọc kỹ vì đây là điểm thường bị đếm sai: nhân sự được tính là viên chức, hoặc người lao động ký hợp đồng lao động thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên, hoặc người lao động ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Hợp đồng ngắn hạn, cộng tác viên theo vụ việc hoặc nhân sự của đơn vị liên kết không được tính vào con số tối thiểu 06 người.
3.2. Tổ chức chứng nhận
Điều 72 khoản 2 điểm a yêu cầu tổ chức đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, và phải được công nhận đối với phạm vi đăng ký chỉ định.
Với tổ chức chứng nhận, điều kiện nhân sự gồm hai phần. Về số lượng, tổ chức phải có tối thiểu 06 chuyên gia đánh giá chính thức, với cách xác định “chính thức” như trên. Về kinh nghiệm, chuyên gia phải có kinh nghiệm đánh giá tối thiểu 20 ngày công đối với sản phẩm, hàng hóa đăng ký chỉ định.
Đối với các chương trình chứng nhận hệ thống quản lý mới, Nghị định cho phép dùng kinh nghiệm tương đương nhưng có điều kiện chặt: chuyên gia phải có kinh nghiệm đánh giá ít nhất 20 ngày công đối với chương trình chứng nhận các hệ thống quản lý khác có cùng bản chất, logic hoặc thuộc cùng một lĩnh vực, hoặc có kinh nghiệm đánh giá ít nhất 05 ngày công đối với chương trình chứng nhận đăng ký.
Đối với chương trình chứng nhận sản phẩm mới, hoặc sản phẩm đăng ký bổ sung hoạt động chứng nhận, chuyên gia phải có kinh nghiệm đánh giá ít nhất 05 ngày công đối với các sản phẩm có cùng chủng loại, được hiểu là sản phẩm có mục đích sử dụng tương tự hoặc thuộc cùng nhóm phân loại theo mã HS, mã ngành sản phẩm hoặc theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng, và cùng công nghệ, được hiểu là sản phẩm có quy trình sản xuất, vật liệu cấu thành, cấu trúc kỹ thuật hoặc nguyên lý hoạt động tương đồng.
Khi chuyên gia dùng kinh nghiệm đánh giá đối với chương trình chứng nhận các hệ thống quản lý khác để thay thế, Nghị định yêu cầu các hệ thống quản lý đó phải được xác định là có cùng bản chất, logic hoặc thuộc cùng một lĩnh vực, đáp ứng một trong ba tiêu chí: được xây dựng theo cùng cấu trúc tiêu chuẩn do Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) ban hành; có cùng lĩnh vực chuyên ngành, phạm vi quản lý như nhóm hệ thống quản lý chất lượng, nhóm hệ thống quản lý môi trường, nhóm hệ thống quản lý an toàn thực phẩm, nhóm hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, nhóm hệ thống quản lý an toàn thông tin; hoặc có mục tiêu quản lý tương đồng, được quốc tế thừa nhận trong các văn bản hướng dẫn của Diễn đàn Công nhận Quốc tế (IAF), Tổ chức Công nhận các phòng thử nghiệm Quốc tế (ILAC) hoặc các tổ chức hợp tác công nhận khu vực, quốc tế khác.
3.3. Tổ chức kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng
Với nhóm này, điều kiện nhân sự gồm tối thiểu 06 chuyên gia đánh giá chính thức và kinh nghiệm đánh giá tối thiểu 10 ngày công đối với lĩnh vực kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng đăng ký chỉ định.
3.4. Tổ chức giám định
Điều 72 khoản 3 quy định ba điều kiện: đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giám định theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, trong đó có lĩnh vực giám định đăng ký chỉ định; phải được công nhận bởi tổ chức công nhận đã đăng ký hoạt động đối với phạm vi đăng ký chỉ định giám định; và có tối thiểu 06 giám định viên chính thức, mỗi người có kinh nghiệm tối thiểu 02 năm trực tiếp thực hiện giám định đối tượng phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, với tối thiểu 20 ngày công giám định đã được xác nhận bởi tổ chức giám định.
| Điều kiện cốt lõi | Thử nghiệm | Chứng nhận | Kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng | Giám định |
|---|---|---|---|---|
| Đăng ký hoạt động đúng lĩnh vực | Có | Có | Có | Có |
| Được công nhận đúng phạm vi | Có | Có | Có | Có |
| Số nhân sự chính thức tối thiểu | 06 thử nghiệm viên | 06 chuyên gia đánh giá | 06 chuyên gia đánh giá | 06 giám định viên |
| Kinh nghiệm tối thiểu của nhân sự | 02 năm trong lĩnh vực thử nghiệm | 20 ngày công đánh giá sản phẩm, hàng hóa đăng ký | 10 ngày công trong lĩnh vực đăng ký | 02 năm giám định, trong đó 20 ngày công được xác nhận |
| Thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng | Có, cho phương pháp thử đăng ký | Không quy định riêng | Không quy định riêng | Không quy định riêng |
4. Hồ sơ đăng ký chỉ định
Điều 73 quy định hồ sơ theo năm trường hợp: chỉ định lần đầu; chỉ định thử nghiệm tạm thời; thay đổi, bổ sung, thu hẹp phạm vi hoặc lĩnh vực được chỉ định; cấp lại quyết định chỉ định; và chỉ định lại khi quyết định chỉ định sắp hết thời hạn hiệu lực.
4.1. Chỉ định lần đầu
Hồ sơ chỉ định lần đầu gồm bảy thành phần. Thứ nhất, đơn đăng ký chỉ định hoạt động đánh giá sự phù hợp theo Mẫu số 4 Phụ lục VII. Thứ hai, bản sao Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng. Thứ ba, bản sao Chứng chỉ công nhận của tổ chức công nhận đối với phạm vi đăng ký chỉ định tương ứng.
Thứ tư, danh sách thử nghiệm viên, chuyên gia đánh giá, giám định viên theo Mẫu số 7 Phụ lục VII, kèm bản sao chứng chỉ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ. Thứ năm, danh mục tài liệu kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy trình, thủ tục thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng theo Mẫu số 8 Phụ lục VII, kèm bản sao quy trình, thủ tục tương ứng với sản phẩm, hàng hóa, quá trình, môi trường đăng ký chỉ định.
Thứ sáu, đối với tổ chức thử nghiệm, danh mục máy móc, thiết bị thử nghiệm đối với lĩnh vực đăng ký chỉ định theo Mẫu số 9 Phụ lục VII, kèm bản sao Giấy chứng nhận kiểm định, hiệu chuẩn còn hiệu lực và bằng chứng sở hữu hoặc thuê dài hạn thiết bị thử nghiệm. Thứ bảy, đối với tổ chức thử nghiệm, bản sao kết quả thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng đối với phương pháp thử của sản phẩm, hàng hóa đăng ký chỉ định, với ít nhất 02 tổ chức thử nghiệm khác được chỉ định hoặc được công nhận theo tiêu chuẩn TCVN ISO/IEC 17025 hoặc ISO/IEC 17025.
Hai thành phần cuối là những thành phần tốn thời gian nhất trong thực tế. Việc có kết quả thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng với ít nhất hai tổ chức khác, cho đúng phương pháp thử đăng ký, thường cần một chu kỳ chuẩn bị dài hơn nhiều so với một lần thử nội bộ, vì phải có chương trình phù hợp, mẫu đồng nhất và thời gian đối chiếu kết quả. Tương tự, việc chứng minh hiệu chuẩn, kiểm định còn hiệu lực và quyền sử dụng thiết bị (sở hữu hoặc thuê dài hạn) đòi hỏi hồ sơ phải được cập nhật trước khi nộp, chứ không thể bổ sung sau.
4.2. Chỉ định thử nghiệm tạm thời
Điều 73 khoản 2 quy định bộ quản lý ngành, lĩnh vực quyết định việc chỉ định tạm thời tổ chức thử nghiệm để phục vụ nhu cầu thử nghiệm các chỉ tiêu mới, và chịu trách nhiệm về quyết định này. Quyết định chỉ định tạm thời có hiệu lực 06 tháng kể từ ngày ký. Hồ sơ gồm đơn đăng ký theo Mẫu số 4 Phụ lục VII; bản sao Quyết định chỉ định tổ chức thử nghiệm đã cấp; và hồ sơ phương pháp thử, xác nhận giá trị sử dụng của phương pháp thử nghiệm và chất chuẩn để kiểm soát chất lượng thử nghiệm.
Đây là một lối đi cần được biết đến nhiều hơn trong thực tế: khi quy chuẩn mới có chỉ tiêu mới và chưa có tổ chức nào được chỉ định cho chỉ tiêu đó, cơ chế chỉ định tạm thời cho phép giải quyết khoảng trống năng lực trong thời hạn ngắn, với điều kiện tổ chức thử nghiệm đã có nền tảng về phương pháp thử và chất chuẩn.
4.3. Thay đổi, bổ sung, thu hẹp phạm vi chỉ định
Hồ sơ gồm đơn đăng ký thay đổi, bổ sung, thu hẹp phạm vi, lĩnh vực được chỉ định, hoặc mở rộng thêm cơ sở, địa điểm thực hiện đánh giá sự phù hợp theo Mẫu số 11 Phụ lục VII; bản sao giấy chứng nhận đăng ký hoạt động và bản sao Quyết định chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp; danh sách thử nghiệm viên, giám định viên, chuyên gia đánh giá đối với phạm vi, lĩnh vực đăng ký thay đổi, bổ sung theo Mẫu số 7 kèm bản sao chứng chỉ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ; danh mục tài liệu kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy trình theo Mẫu số 8 kèm bản sao quy trình tương ứng; danh mục máy móc, thiết bị thử nghiệm theo Mẫu số 9 kèm bản sao giấy chứng nhận kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm còn hiệu lực; bản sao Chứng chỉ công nhận năng lực đối với phạm vi, lĩnh vực đăng ký thay đổi, bổ sung; và bản sao kết quả thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng cho phương pháp thử đăng ký thay đổi, bổ sung đối với tổ chức thử nghiệm.
4.4. Cấp lại quyết định chỉ định
Trường hợp quyết định chỉ định còn hiệu lực nhưng bị mất, thất lạc, hư hỏng, hoặc tổ chức thay đổi tên, địa chỉ, hồ sơ được nộp theo Mẫu số 12 Phụ lục VII. Nếu đề nghị cấp lại do thay đổi tên hoặc địa chỉ, tổ chức phải nộp bổ sung tài liệu chứng minh việc thay đổi, gồm một trong các giấy tờ: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc giấy tờ hợp lệ khác theo quy định của pháp luật. Nếu đề nghị cấp lại do mất, thất lạc, hư hỏng thì hồ sơ chỉ gồm đơn theo Mẫu số 12.
4.5. Chỉ định lại khi sắp hết thời hạn
Điều 73 khoản 5 quy định trước khi quyết định chỉ định hết thời hạn hiệu lực, trong thời hạn 60 ngày, nếu có nhu cầu, tổ chức đánh giá sự phù hợp phải lập hồ sơ như đối với trường hợp chỉ định lần đầu. Riêng tổ chức thử nghiệm đã được chỉ định, hồ sơ đăng ký chỉ định lại phải nộp kèm tài liệu chứng minh đã tham gia chương trình thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng ít nhất một lần đối với lĩnh vực thử nghiệm đã được chỉ định.
Mốc 60 ngày này là điểm doanh nghiệp cần đưa vào lịch tuân thủ nội bộ, bởi hồ sơ chỉ định lại được xử lý như chỉ định lần đầu, nghĩa là có thể phải đánh giá năng lực thực tế, có thời gian khắc phục và có thời gian ban hành quyết định.
5. Hình thức nộp hồ sơ
Điều 74 quy định tổ chức đánh giá sự phù hợp khi có nhu cầu tham gia hoạt động thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm tra xác nhận và xác nhận giá trị sử dụng phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực cụ thể lập 01 bộ hồ sơ đăng ký chỉ định, nộp theo hình thức dịch vụ công trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Trường hợp Cổng dịch vụ công quốc gia bị lỗi hoặc thủ tục hành chính này chưa hoàn thiện hạ tầng dịch vụ công trực tuyến, tổ chức nộp hồ sơ bản giấy theo hình thức nộp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.
Với đơn vị làm hồ sơ, hệ quả thực tế là hai bộ hồ sơ song song: một bộ điện tử để nộp, và một bộ hồ sơ nội bộ có kiểm soát phiên bản, vì cùng một dữ liệu sẽ phải dùng lại nhiều lần cho các mục đích khác nhau như chỉ định, công nhận, báo cáo hoạt động định kỳ và các kỳ đánh giá giám sát.
6. Trình tự, thủ tục chỉ định và các mốc thời gian
Điều 75 quy định trình tự, thủ tục cho các trường hợp chỉ định lần đầu, chỉ định tạm thời, thay đổi, bổ sung phạm vi, lĩnh vực chỉ định, và quyết định chỉ định hết thời hạn hiệu lực. Các mốc thời gian được tóm tắt trong bảng dưới đây.
| Bước | Nội dung | Thời hạn |
|---|---|---|
| 1 | Cơ quan chỉ định thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung nếu hồ sơ không đầy đủ, hợp lệ | 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ |
| 2 | Cơ quan chỉ định quyết định thực hiện đánh giá năng lực thực tế | 10 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ hợp lệ |
| 3 | Thông báo bằng văn bản cho tổ chức về việc đánh giá thực tế | Trước khi đánh giá |
| 4 | Chuyên gia hoặc đoàn đánh giá ký biên bản đánh giá thực tế và gửi về cơ quan chỉ định | Trong vòng 05 ngày sau khi kết thúc đánh giá |
| 5 | Tổ chức gửi báo cáo kết quả hành động khắc phục | Không quá 30 ngày; trường hợp phải kéo dài thì báo cáo bằng văn bản, tối đa không quá 06 tháng |
| 6 | Cơ quan chỉ định ban hành quyết định chỉ định theo Mẫu số 10 nếu đáp ứng yêu cầu | 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận báo cáo khắc phục |
| 7 | Thời hạn hiệu lực của quyết định chỉ định | Do cơ quan chỉ định quyết định theo năng lực, nhưng không quá 05 năm kể từ ngày ký ban hành |
| 8 | Cấp lại quyết định chỉ định | 05 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ |
| 9 | Chỉ định lại khi sắp hết thời hạn hiệu lực | Đề nghị trước khi hết thời hạn 60 ngày |
Một số nội dung đáng lưu ý trong bước đánh giá năng lực thực tế. Việc đánh giá được thực hiện trên cơ sở các tiêu chí về nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống quản lý chất lượng, kết quả hoạt động và việc tuân thủ pháp luật của tổ chức đánh giá sự phù hợp. Việc đánh giá thực tế được thực hiện thông qua việc cử chuyên gia hoặc thành lập đoàn đánh giá. Chuyên gia, hoặc ít nhất một thành viên đoàn đánh giá năng lực thực tế, phải được đào tạo về hệ thống quản lý chất lượng tương ứng với từng loại hình tổ chức đăng ký chỉ định.
Đối với trường hợp chỉ định tạm thời, thay đổi, bổ sung hoặc thu hẹp phạm vi, nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan chỉ định tiến hành thẩm xét hồ sơ và không tổ chức đánh giá năng lực thực tế. Tuy nhiên, nếu hồ sơ có nội dung không phù hợp, hoặc có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc có thông tin, phản ánh về dấu hiệu vi phạm liên quan đến hồ sơ, cơ quan chỉ định sẽ tổ chức đánh giá năng lực thực tế tại tổ chức đánh giá sự phù hợp.
Nội dung đánh giá thực tế được phân biệt theo tình trạng hoạt động của tổ chức. Với tổ chức đề nghị chỉ định lần đầu, cơ quan chỉ định đánh giá việc đáp ứng điều kiện năng lực, hệ thống quản lý và sự phù hợp của hồ sơ pháp lý; không đánh giá nội dung tuân thủ trong hoạt động đánh giá sự phù hợp do chưa phát sinh hoạt động. Với tổ chức đang hoạt động, đề nghị chỉ định lại hoặc mở rộng phạm vi, cơ quan chỉ định đánh giá việc tuân thủ pháp luật dựa trên báo cáo kết quả hoạt động đánh giá sự phù hợp trong thời hạn 03 năm gần nhất, hoặc trong thời gian hoạt động nếu thời gian hoạt động dưới 03 năm; hồ sơ xử lý vi phạm nếu có; và kết quả giám sát của cơ quan quản lý và cơ quan công nhận nếu có. Cơ quan chỉ định cũng xác minh tính chính xác, trung thực và đầy đủ của hồ sơ; riêng với tổ chức thử nghiệm, xác thực hiện trạng cơ sở vật chất, thử nghiệm viên, trang thiết bị thử nghiệm và kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật đối với các phương pháp thử tương ứng.
Về chi phí, Điều 75 quy định chi phí phục vụ hoạt động đánh giá của chuyên gia hoặc đoàn đánh giá do tổ chức đăng ký chỉ định bảo đảm theo nguyên tắc công khai, minh bạch và tuân thủ quy định của pháp luật về tài chính. Danh mục chi phí gồm chi phí đi lại, lưu trú, chi phí thuê chuyên gia nếu có, chi phí thực hiện đánh giá tại cơ sở và các chi phí hợp lệ khác theo quy định của Bộ Tài chính và pháp luật chuyên ngành; mức chi thực hiện theo chế độ chi tiêu tài chính hiện hành.
7. Nghĩa vụ khi có thay đổi và trong suốt thời hạn được chỉ định
Điều 75 khoản 5 quy định khi tổ chức đánh giá sự phù hợp có thay đổi về năng lực liên quan đến nhân sự kỹ thuật, thiết bị, quy trình hoặc hệ thống quản lý chất lượng trong quá trình hoạt động, tổ chức phải thông báo bằng văn bản đến bộ quản lý ngành, lĩnh vực. Hồ sơ thông báo gồm văn bản nêu rõ nội dung thay đổi; tài liệu chứng minh năng lực sau thay đổi gồm hồ sơ nhân sự, hồ sơ thiết bị, quy trình cập nhật; báo cáo đánh giá nội bộ về tác động của sự thay đổi; và các tài liệu khác theo yêu cầu của bộ quản lý ngành, lĩnh vực. Cơ quan chỉ định xem xét hồ sơ, đánh giá sự phù hợp của thay đổi, đánh giá thực tế nếu cần, rồi quyết định việc chấp thuận thay đổi, điều chỉnh phạm vi chỉ định hoặc yêu cầu khắc phục.
Điều 77 quy định ba nhóm trách nhiệm thường xuyên. Thứ nhất, tổ chức được chỉ định thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; với tổ chức thử nghiệm đã được chỉ định, trong thời hạn hiệu lực của quyết định chỉ định, tổ chức phải tham gia chương trình thử nghiệm thành thạo, so sánh liên phòng ít nhất một lần đối với lĩnh vực thử nghiệm và sản phẩm, hàng hóa đã được chỉ định.
Thứ hai, định kỳ hàng quý trước ngày 25, hoặc đột xuất khi có yêu cầu, tổ chức cập nhật kết quả hoạt động đánh giá sự phù hợp đã được chỉ định theo Mẫu số 13 Phụ lục VII trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng. Thứ ba, tổ chức thông báo cho cơ quan chỉ định về mọi thay đổi có ảnh hưởng tới năng lực hoạt động đánh giá sự phù hợp đã được chỉ định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có sự thay đổi.
Điều 71 khoản 5 bổ sung nguyên tắc: tổ chức được chỉ định có trách nhiệm duy trì năng lực, thực hiện đúng phạm vi, phương thức và yêu cầu kỹ thuật theo quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc pháp luật chuyên ngành, và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền.
8. Thu hồi quyết định chỉ định
Điều 76 quy định bộ quản lý ngành, lĩnh vực xem xét, quyết định thu hồi quyết định chỉ định khi tổ chức đánh giá sự phù hợp vi phạm một trong bảy trường hợp: vi phạm 02 lần liên tiếp các quy định về đánh giá sự phù hợp theo pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và các quy định tại Nghị định này; không thực hiện đầy đủ trách nhiệm tương ứng quy định tại Điều 77 trong 02 năm liên tiếp; không bảo đảm một trong các điều kiện tương ứng đối với tổ chức được chỉ định; giả mạo hoặc khai man tài liệu trong hồ sơ đăng ký chỉ định, cấp khống kết quả đánh giá sự phù hợp; tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung trên quyết định chỉ định được cấp; không thực hiện khắc phục các vi phạm theo yêu cầu của cơ quan thanh tra, kiểm tra; và trường hợp tổ chức không còn hoạt động trong phạm vi đã được chỉ định, bị giải thể, hoặc tự đề nghị thu hồi.
Hệ quả về thời gian được nêu rõ: tổ chức đã bị thu hồi quyết định chỉ định chỉ được xem xét hồ sơ đăng ký chỉ định tối thiểu sau 06 tháng kể từ khi có thông báo thu hồi và đã khắc phục các vi phạm. Trình tự thu hồi gồm việc cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi trong thời hạn 03 ngày làm việc, trong đó nêu rõ lý do; quyết định thu hồi phải được gửi cho tổ chức liên quan, công bố trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.
Điểm đáng chú ý về mặt pháp lý là cách Nghị định tách hai tình huống. Nếu lý do thu hồi đồng thời là hành vi vi phạm hành chính theo nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi và chuyển hồ sơ cho cơ quan thanh tra để xử lý, xử phạt theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Nếu lý do thu hồi không phải là hành vi vi phạm hành chính, ví dụ tổ chức tự nguyện rút hoặc không duy trì được năng lực sau chu kỳ đánh giá, cơ quan có thẩm quyền chỉ ban hành quyết định thu hồi và không áp dụng xử phạt vi phạm hành chính.

9. Nhìn từ phía doanh nghiệp sử dụng kết quả đánh giá sự phù hợp
Với doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu — bên sử dụng kết quả thử nghiệm, chứng nhận để công bố hợp quy — các quy định trên có bốn hàm ý thực tế.
Thứ nhất, kết quả đánh giá sự phù hợp chỉ được dùng cho mục đích quản lý nhà nước khi tổ chức cung cấp kết quả nằm trong danh sách được chỉ định, đúng phạm vi và còn hiệu lực. Do danh sách được cập nhật trước ngày 25 hàng tháng, doanh nghiệp nên kiểm tra tại thời điểm giao kết hợp đồng và kiểm tra lại trước khi nộp hồ sơ công bố hợp quy đối với những lô hàng có độ trễ thời gian dài.
Thứ hai, rủi ro không chỉ nằm ở khâu thử nghiệm. Nếu tổ chức cung cấp kết quả bị thu hồi quyết định chỉ định vì giả mạo tài liệu hoặc cấp khống kết quả, giá trị sử dụng của kết quả đã cấp trở thành vấn đề pháp lý đối với cả bên sử dụng. Điều này lý giải vì sao việc lưu giữ hồ sơ năng lực của đối tác, gồm cả bản quyết định chỉ định tại thời điểm cấp kết quả, là một biện pháp phòng ngừa cần thiết.
Thứ ba, thời hạn hiệu lực của quyết định chỉ định tối đa 05 năm, và việc chỉ định lại phải được đề nghị trước khi hết thời hạn 60 ngày. Một đối tác đang trong quá trình chỉ định lại có thể bị gián đoạn năng lực cung cấp dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định, nên doanh nghiệp có kế hoạch chứng nhận dài hạn nên hỏi trước về tình trạng hiệu lực của quyết định chỉ định.
Thứ tư, cơ chế thừa nhận kết quả đánh giá năng lực giữa các bộ, với giá trị 12 tháng, mở ra khả năng rút ngắn thời gian chỉ định khi tổ chức đã được một bộ khác đánh giá và chỉ định. Với bên sử dụng kết quả ở nước ngoài, nguyên tắc thừa nhận tổ chức đánh giá sự phù hợp đơn phương được bộ quản lý ngành, lĩnh vực thừa nhận theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật là điểm cần tra cứu khi lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ ở nước ngoài.
Một danh sách kiểm tra ngắn, dùng được ngay khi làm việc với phòng thử nghiệm hoặc tổ chức chứng nhận: đơn vị đã có quyết định chỉ định còn hiệu lực chưa; quyết định chỉ định có đúng quy chuẩn kỹ thuật, đúng nhóm sản phẩm và đúng phương pháp thử mà mình cần không; phạm vi công nhận có tương ứng với phạm vi chỉ định không; đơn vị có tham gia thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng trong thời hạn được chỉ định không; đơn vị có cập nhật báo cáo hoạt động định kỳ theo Mẫu số 13 không; đơn vị đã thông báo thay đổi năng lực chưa; và cuối cùng là giá trị pháp lý của kết quả trong trường hợp quyết định chỉ định bị thu hồi sau này.
10. Những điểm cần tra cứu thêm
Để tránh diễn giải quá mức văn bản, chúng tôi nêu rõ những nội dung mà bài viết này chưa xác minh được đầy đủ. Thứ nhất, ngày ký và ngày có hiệu lực cụ thể của Nghị định nên được đối chiếu trên Công báo và Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, bởi bản Nghị định chúng tôi có ghi ngày 23/01/2026 tại phần phụ lục. Thứ hai, việc “được công nhận” theo Điều 72 dẫn chiếu tới pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; tiêu chuẩn công nhận cụ thể cho từng loại hình do tổ chức công nhận và bộ quản lý ngành áp dụng, nên doanh nghiệp cần xác nhận trực tiếp với cơ quan chỉ định. Thứ ba, chế độ chi phí đánh giá thực tế thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính và pháp luật chuyên ngành, do đó mức chi cụ thể không nêu trong bài viết này. Thứ tư, danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao và danh sách tổ chức được chỉ định được công bố theo từng ngành, có thể thay đổi theo kỳ cập nhật, nên cần tra cứu tại thời điểm sử dụng. Thứ năm, các quy định về trình tự, thủ tục hành chính có thể được sửa đổi, bổ sung; người đọc nên kiểm tra văn bản hiện hành trước khi áp dụng cho một hồ sơ cụ thể.
Kết luận
Điều 71 đến Điều 77 của Nghị định 37/2026/NĐ-CP tạo ra một khuôn khổ chỉ định thống nhất cho tổ chức đánh giá sự phù hợp, với ba trục chính: điều kiện năng lực được quy định theo số lượng và kinh nghiệm nhân sự chuyên môn, gắn với công nhận và thử nghiệm thành thạo; trình tự có thời hạn cụ thể cho từng bước, từ 03 ngày làm việc sửa hồ sơ đến 05 ngày làm việc ban hành quyết định; và nghĩa vụ duy trì được kiểm tra theo chu kỳ, gồm báo cáo hoạt động hàng quý trước ngày 25 và thông báo thay đổi năng lực trong 15 ngày.
Với tổ chức đánh giá sự phù hợp, giá trị của việc đọc kỹ các điều khoản này nằm ở chỗ chuẩn bị trước những điểm khó bổ sung sau: nhân sự chính thức theo đúng định nghĩa hợp đồng lao động, hồ sơ hiệu chuẩn và kiểm định thiết bị, kết quả thử nghiệm thành thạo với ít nhất hai tổ chức khác, và lịch đề nghị chỉ định lại trước mốc 60 ngày. Với doanh nghiệp sử dụng kết quả, giá trị nằm ở chỗ biết rõ mình đang dựa vào ai và dựa vào văn bản nào, vì tính hợp lệ của hồ sơ công bố hợp quy phụ thuộc trực tiếp vào hiệu lực của quyết định chỉ định tại thời điểm cấp kết quả.
Ba việc nên làm ngay: (1) rà soát danh mục quy chuẩn kỹ thuật mình đang phải công bố hợp quy, xác định lĩnh vực nào bắt buộc tổ chức đánh giá sự phù hợp phải được chỉ định; (2) kiểm tra tình trạng chỉ định và phạm vi chỉ định của các đơn vị cung cấp dịch vụ đang dùng, gồm cả hiệu lực và thời điểm cấp kết quả; (3) nếu là tổ chức đánh giá sự phù hợp, lập lịch nội bộ cho các mốc tuân thủ định kỳ theo Điều 77 và mốc 60 ngày theo Điều 73 khoản 5. Đây là những việc tốn ít thời gian nhưng giúp tránh gián đoạn năng lực cung cấp dịch vụ hoặc phải làm lại hồ sơ ở giai đoạn nước rút.
Nguồn tham khảo
Các văn bản dưới đây là căn cứ của bài viết; người đọc nên tra cứu bản chính thức trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ (vanban.chinhphu.vn) và Cổng thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ (most.gov.vn).
- Nghị định số 37/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa — Mục 2 Chương VI, Điều 71 đến Điều 77; Điều 97 và Điều 98 về hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp.
- Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 78/2025/QH15.
- Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật số 70/2025/QH15.
- Nghị định số 132/2008/NĐ-CP; Nghị định số 74/2018/NĐ-CP; Nghị định số 154/2018/NĐ-CP; Nghị định số 13/2022/NĐ-CP (các văn bản hết hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026 theo Điều 97 khoản 2 Nghị định 37/2026/NĐ-CP).
- Phụ lục VII Nghị định 37/2026/NĐ-CP — Mẫu số 4, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13.
- Bài viết liên quan trên ticforall.com: QCVN 32:2026/BCT – Quy chuẩn trụ sạc, trạm sạc xe điện: phân tích và những việc cần chuẩn bị trước 01/7/2027; Danh mục sản phẩm phải dán nhãn năng lượng tại Việt Nam: văn bản hiện hành và lộ trình áp dụng.
Trao đổi thêm
Bài viết này là diễn giải của chúng tôi nhằm phổ biến kiến thức pháp luật về chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp, không phải văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật có thể được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ sau thời điểm bài viết được công bố; các mốc thời gian và điều kiện nêu trong bài gắn với nội dung Nghị định 37/2026/NĐ-CP mà chúng tôi có tại thời điểm viết. Trước khi áp dụng cho một trường hợp cụ thể, người đọc cần tra cứu bản văn bản hiện hành trên các cổng thông tin chính thức và tham vấn cơ quan có thẩm quyền. Nội dung bài viết chỉ mang tính tham khảo và không thay thế tư vấn pháp lý.


![[Việt Nam] Kiểm tra chất lượng hàng điện tử nhập khẩu (NĐ 37/2026) Kiện hàng thiết bị điện tử trên băng tải tại khu vực kiểm tra](https://ticforall.com/wp-content/uploads/2026/10/cover-b2-218x150.jpg)
![[Việt Nam] Dự thảo TCVN về xác định các nguyên tố trong nền mẫu rắn môi trường bằng ICP-MS (ISO 16965:2025) Phòng thí nghiệm phân tích hiện đại với thiết bị ICP-MS để bàn, ngọn plasma xanh phát sáng qua cửa sổ quan sát và các lọ mẫu trên bàn, không chữ, không người](https://ticforall.com/wp-content/uploads/2026/10/p16965-du-thao-bia-1600x1067-1-218x150.jpg)
![[Việt Nam] Dự thảo TCVN về khung quyền riêng tư (ISO/IEC 29100:2024): bốn vai, mười một nguyên tắc Biểu tượng khiên có ổ khóa phát sáng xanh trên nền tối, xung quanh là các dòng dữ liệu ẩn danh mờ ảo, không chữ, không người](https://ticforall.com/wp-content/uploads/2026/10/p29100-du-thao-bia-1600x1067-1-218x150.jpg)
![[Việt Nam] QCVN 32:2026/BCT – Quy chuẩn trụ sạc, trạm sạc xe điện: phân tích và những việc cần chuẩn bị trước 01/7/2027 Khu vực sạc xe điện ngoài trời gồm một trụ sạc xoay chiều và một tủ sạc nhanh một chiều đặt cạnh ô đỗ có vạch sơn](https://ticforall.com/wp-content/uploads/2026/10/pTT61-bia-1600x1067-1-100x70.jpg)




