Dự thảo tiêu chuẩn quốc gia về hiệu suất năng lượng của máy điều hòa không khí bán thương mại hiện đang ở giai đoạn lấy ý kiến, tạm mang số hiệu TCVN xxxx:2026 với tên “Máy điều hòa không khí bán thương mại – Hiệu suất năng lượng”. Dự thảo do Tiểu Ban kỹ thuật Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN/TC/E1/SC5 “Hiệu suất năng lượng của thiết bị lạnh” biên soạn, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm định và Bộ Khoa học và Công nghệ công bố. Đây là một văn bản ngắn, chỉ bảy trang, nhưng có ý nghĩa trực tiếp với doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu và thử nghiệm điều hòa không khí, vì nó quy định chính các mức hiệu suất năng lượng và cách xác định chúng. Bài viết tóm tắt phạm vi, cấu trúc, các yêu cầu kỹ thuật và điểm cần lưu ý khi đọc dự thảo.
1. Dự thảo này là gì và đang ở đâu
Đây là một dự thảo: số hiệu còn để trống, nội dung có thể thay đổi và dự thảo chưa có hiệu lực áp dụng. Phần “Lời nói đầu” ghi rõ cơ quan biên soạn, cơ quan đề nghị, cơ quan thẩm định và cơ quan công bố.
Khác với các dự thảo kỹ thuật dài hàng chục trang mà chúng tôi đã phân tích trước đây, văn bản này thuộc nhóm tiêu chuẩn về hiệu suất năng lượng: nội dung cô đọng, chủ yếu gồm các mức hiệu suất và phương pháp xác định, không đi vào thiết kế hay chức năng của sản phẩm. Dự thảo gồm sáu điều và không có phụ lục.
2. Dự thảo nằm ở đâu trong bức tranh dán nhãn năng lượng
Ở Việt Nam, hiệu suất năng lượng của thiết bị được quản lý theo hướng dẫn dán nhãn năng lượng và áp dụng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu (MEPS) cho từng nhóm sản phẩm. Tiêu chuẩn quốc gia về hiệu suất năng lượng đóng vai trò kỹ thuật nền: nó quy định ngưỡng và phương pháp xác định, còn việc dán nhãn và kiểm tra thực hiện theo các văn bản quản lý tương ứng.
Vì vậy dự thảo này không nên được đọc như một văn bản bắt buộc độc lập. Cách hiểu phù hợp là: dự thảo cung cấp thang hiệu suất và phép đo, còn nghĩa vụ pháp lý cụ thể phụ thuộc vào danh mục sản phẩm phải dán nhãn năng lượng và các quy định đang có hiệu lực. Doanh nghiệp nên đọc kèm danh mục sản phẩm phải dán nhãn năng lượng tại Việt Nam để biết mặt hàng của mình đang ở tình trạng nào.
3. Phạm vi áp dụng
Phạm vi được mô tả bằng một câu tương đối hẹp: tiêu chuẩn quy định mức hiệu suất năng lượng và phương pháp xác định hiệu suất năng lượng cho máy điều hòa không khí sử dụng máy nén-động cơ kiểu kín và giàn ngưng tụ làm mát bằng không khí, hai cụm, có hoặc không có biến tần, có năng suất lạnh danh định đến và bằng 18 000 W.
Bốn đặc điểm cần nắm rõ: thứ nhất, máy nén-động cơ kiểu kín; thứ hai, giàn ngưng tụ làm mát bằng không khí, tức không thuộc nhóm làm mát bằng nước; thứ ba, loại hai cụm; thứ tư, giới hạn năng suất lạnh danh định không quá 18 000 W. Dự thảo chú thích rằng một số thiết bị thuộc phạm vi bao gồm điều hòa loại có ống gió, loại xách tay, loại đứng sàn, loại âm trần và loại áp trần.
Phần loại trừ cũng rõ: tiêu chuẩn không áp dụng cho các máy điều hòa thuộc phạm vi áp dụng của TCVN 7830:xxxx, máy điều hòa làm mát bằng nước và máy điều hòa nhiều hơn hai cụm. Điểm cần lưu ý là dự thảo dẫn TCVN 7830 nhưng không ghi năm công bố, nên ranh giới áp dụng giữa hai tiêu chuẩn cần được đối chiếu khi bản chính thức ra đời, đặc biệt với các sản phẩm nằm sát ngưỡng 18 000 W.
4. Cấu trúc dự thảo
Dự thảo gồm sáu điều, ngắn gọn và theo trật tự quen thuộc của tiêu chuẩn phương pháp: Điều 1 phạm vi áp dụng; Điều 2 tài liệu viện dẫn; Điều 3 thuật ngữ và định nghĩa; Điều 4 yêu cầu kỹ thuật; Điều 5 phương pháp xác định; Điều 6 báo cáo kết quả. Không có phụ lục và không có bảng biểu nào ngoài hai bảng xếp cấp hiệu suất năng lượng.
Với người làm hồ sơ, trật tự này rất thuận: Điều 4 cho biết phải đạt gì, Điều 5 cho biết đo thế nào, Điều 6 cho biết báo cáo phải ghi những gì. Ba điều này chính là ba phần của một bộ hồ sơ thử nghiệm.
5. Tài liệu viện dẫn
Dự thảo viện dẫn ba tiêu chuẩn, và cả ba đều có năm công bố cụ thể, nghĩa là áp dụng đúng phiên bản được nêu:
- TCVN 6576:2020 (ISO 5151:2017), Máy điều hoà không khí và bơm nhiệt không ống gió – Thử và xác định thông số tính năng;
- TCVN 6577:2020 (ISO 13253:2017), Máy điều hòa không khí và bơm nhiệt gió-gió có ống gió – Thử và xác định thông số tính năng;
- TCVN 10273-1:2013 (ISO 16358-1:2013), Máy điều hoà không khí giải nhiệt gió và bơm nhiệt gió-gió – Phương pháp thử và tính toán các hệ số hiệu quả mùa – Phần 1: Hệ số hiệu quả mùa làm lạnh.
Việc dự thảo chỉ gồm ba viện dẫn cho thấy hướng tiếp cận là “mượn” toàn bộ phương pháp thử đã có và chỉ ấn định thêm mức hiệu suất. Với doanh nghiệp đã thử theo bộ TCVN 6576 và TCVN 10273-1, khối lượng thay đổi về phương pháp là không lớn; phần mới chủ yếu nằm ở ngưỡng xếp cấp.
6. Thuật ngữ: năng suất lạnh và hiệu suất năng lượng
Điều 3 nêu ngắn: tiêu chuẩn sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa trong ba tiêu chuẩn viện dẫn, và bổ sung hai định nghĩa riêng.
Thứ nhất, năng suất lạnh (cooling capacity) là tổng nhiệt hiện và nhiệt ẩn mà thiết bị có thể lấy đi khỏi một không gian được điều hòa nhất định trong một thời gian xác định, biểu thị bằng oát (W).
Thứ hai, hiệu suất năng lượng (Energy Efficiency) của máy điều hòa không khí bán thương mại được xác định bằng hệ số hiệu quả mùa làm lạnh CSPF. Đây là điểm quan trọng nhất về mặt khái niệm: tiêu chuẩn không dùng hệ số hiệu quả tức thời tại một điểm làm việc, mà dùng hệ số hiệu quả theo mùa, tức có tính đến nhiều chế độ tải và nhiệt độ khác nhau trong cả mùa làm lạnh, phù hợp với thiết bị có biến tần.
7. Yêu cầu về năng suất lạnh và công suất điện đầy tải
Điều 4.1 gồm hai yêu cầu tưởng đơn giản nhưng lại là chốt kiểm soát chất lượng công bố:
- Năng suất lạnh phải lớn hơn hoặc bằng 95 % năng suất lạnh do nhà chế tạo công bố;
- Công suất điện đầy tải phải nằm trong phạm vi ± 10 % công suất điện danh định do nhà chế tạo công bố.
Hai yêu cầu này có vai trò khác nhau. Ngưỡng 95 % cho năng suất lạnh ngăn tình trạng công bố năng suất cao hơn thực tế, vốn là cách đánh bóng chỉ số hiệu suất. Khoảng ± 10 % cho công suất điện cho phép sai lệch kỹ thuật bình thường nhưng chặn việc công bố công suất tiêu thụ thấp hơn thực tế. Kết hợp lại, chúng bảo đảm chỉ số CSPF được tính trên các số liệu đo không lệch quá xa so với công bố.
8. Thang năm cấp hiệu suất năng lượng
Điều 4.2 chia hiệu suất năng lượng của thiết bị thành năm cấp, với nguyên tắc: ứng với các cấp từ 1 đến 5, hiệu suất năng lượng không được nhỏ hơn giá trị quy định trong Bảng 1 hoặc Bảng 2 tương ứng; cấp 1 là cấp thấp nhất và là cơ sở để xác định mức hiệu suất năng lượng tối thiểu (MEPS); cấp 5 là cấp có hiệu suất năng lượng cao nhất.
Bảng 1 áp dụng cho điều hòa không khí không ống gió, Bảng 2 áp dụng cho điều hòa không khí có ống gió. Cả hai bảng đều chỉ có một dải năng suất lạnh danh định là đến và bằng 18 000 W, tức toàn bộ phạm vi áp dụng.
| Năng suất lạnh danh định | Cấp hiệu suất năng lượng (CSPF, không nhỏ hơn) | ||||
|---|---|---|---|---|---|
| Cấp 1 | Cấp 2 | Cấp 3 | Cấp 4 | Cấp 5 | |
| ≤ 18 000 W (không ống gió) | 3,20 | 3,40 | 3,80 | 5,50 | 6,10 |
| ≤ 18 000 W (có ống gió) | 2,80 | 3,00 | 3,20 | 4,30 | 5,30 |
Có ba nhận xét hữu ích khi đọc hai bảng này. Thứ nhất, ngưỡng của loại có ống gió thấp hơn loại không ống gió ở mọi cấp, hợp lý về kỹ thuật vì tổn thất áp suất và hệ thống gió làm giảm hiệu suất tổng thể. Thứ hai, khoảng cách giữa cấp 3 và cấp 4 khá lớn (3,80 lên 5,50 ở loại không ống gió), nghĩa là việc đạt cấp 4 đòi hỏi khác biệt công nghệ chứ không chỉ tinh chỉnh. Thứ ba, vì cấp 1 là cơ sở xác định MEPS, doanh nghiệp cần theo dõi xem khi tiêu chuẩn ban hành, cơ quan quản lý chọn cấp nào làm mức tối thiểu áp dụng cho từng thời kỳ.
9. Phương pháp xác định

Điều 5 quy định cách đo, và điều đáng chú ý là dự thảo phân nhánh theo loại thiết bị và theo áp suất tĩnh bên ngoài:
- Với điều hòa không ống gió, hoặc điều hòa có ống gió có năng suất lạnh danh định nhỏ hơn 8 kW và được thiết kế hoạt động ở áp suất tĩnh bên ngoài nhỏ hơn 25 Pa, các phép thử được thực hiện trong điều kiện thử nghiệm T1 theo TCVN 6576:2020; năng suất lạnh xác định theo TCVN 6576:2020;
- Với điều hòa có ống gió, năng suất lạnh xác định theo TCVN 6577:2020;
- Hiệu suất năng lượng được xác định theo TCVN 10273-1:2013.
Điều kiện thử nghiệm T1 là điều kiện chuẩn dùng cho thiết bị giải nhiệt gió, phổ biến trong đánh giá điều hòa tại Việt Nam. Còn ngưỡng 8 kW và 25 Pa là ranh giới kỹ thuật để quyết định dùng TCVN 6576 hay TCVN 6577 khi thử năng suất lạnh của thiết bị có ống gió. Với doanh nghiệp, đây là chi tiết cần xác định trước khi đặt lịch thử, vì chọn sai tiêu chuẩn thử sẽ dẫn tới kết quả không được chấp nhận.
10. Yêu cầu về báo cáo kết quả

Điều 6 nêu ba nhóm thông tin tối thiểu mà báo cáo thử nghiệm phải có:
- Các giá trị công suất điện vào P50% (trong trường hợp áp dụng) và P100%;
- Các giá trị năng suất lạnh ở mức 50 % (trong trường hợp áp dụng) và ở mức 100 %;
- Chỉ số hiệu suất năng lượng CSPF, làm tròn đến hai chữ số thập phân.
Việc yêu cầu công bố cả giá trị ở mức tải 50 % và 100 % phù hợp với cách tính CSPF theo mùa: nếu chỉ có một điểm tải, không thể tính được chỉ số mùa có ý nghĩa, đặc biệt với thiết bị biến tần. Yêu cầu làm tròn đến hai chữ số thập phân giúp kết quả giữa các phòng thử có thể so sánh trực tiếp với ngưỡng trong Bảng 1 và Bảng 2 mà không phát sinh tranh cãi về cách làm tròn.
11. Ba điểm cần lưu ý khi đọc dự thảo
Thứ nhất, dự thảo dẫn TCVN 7830 nhưng không ghi năm công bố, trong khi ba tài liệu viện dẫn khác đều ghi năm. Vì TCVN 7830 là tiêu chuẩn về hiệu suất năng lượng của điều hòa không khí, việc xác định ranh giới giữa phạm vi hai tiêu chuẩn là việc cần làm sớm, nhất là với thiết bị gần ngưỡng 18 000 W hoặc thiết bị vừa có thể xếp vào loại dân dụng vừa có thể xếp vào loại bán thương mại.
Thứ hai, dự thảo xếp tên thiết bị theo cách riêng: phần phạm vi dùng “máy điều hòa không khí bán thương mại”, phần thuật ngữ lại dùng “máy điều hòa không khí thương mại cỡ nhỏ”. Hai cách gọi này cùng chỉ một nhóm sản phẩm, nhưng khi trích dẫn nên theo cách gọi ở Điều 1.
Thứ ba, dự thảo chưa quy định chuyển tiếp hay lộ trình áp dụng theo thời gian cho từng cấp. Trong thực tế quản lý nhãn năng lượng, mức tối thiểu thường được siết theo giai đoạn; nếu bản chính thức cũng theo cách này, doanh nghiệp sẽ cần theo dõi cả lộ trình chứ không chỉ một con số.
12. Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì
Với nhà sản xuất và nhà nhập khẩu, bốn việc nên làm trước: xác định chính xác sản phẩm thuộc dải nào (không ống gió hay có ống gió, năng suất lạnh danh định bao nhiêu, áp suất tĩnh ngoài nếu có ống gió); soát lại hồ sơ công bố về năng suất lạnh và công suất điện đầy tải để bảo đảm nằm trong ngưỡng 95 % và ± 10 %; xác định chỉ số CSPF hiện tại của sản phẩm và đối chiếu với năm cấp trong dự thảo để biết sản phẩm đang ở cấp nào; và rà soát danh mục sản phẩm phải dán nhãn năng lượng cùng các quy định liên quan để biết nghĩa vụ cụ thể của mặt hàng mình.
Với đơn vị thử nghiệm, có ba điểm cần soát: năng lực thử theo cả TCVN 6576:2020 và TCVN 6577:2020, trong đó có các phép thử ở áp suất tĩnh ngoài; năng lực tính CSPF theo TCVN 10273-1:2013, kể cả trường hợp cần số liệu ở mức tải 50 %; và mẫu báo cáo thử nghiệm có đủ các mục tại Điều 6, dùng đúng quy tắc làm tròn hai chữ số thập phân.
Với đơn vị tư vấn và hồ sơ hợp quy, điểm cần nắm là dự thảo này chỉ là một mắt lưới trong chuỗi: sản phẩm điều hòa không khí thường đồng thời chịu yêu cầu về an toàn điện và tương thích điện từ, chưa kể nghĩa vụ công bố hợp quy theo danh mục hàng hóa rủi ro. Một hồ sơ tốt cần đặt hiệu suất năng lượng đúng chỗ bên cạnh các yêu cầu khác, thay vì xử lý rời rạc. Một số quy định về danh mục hàng hóa rủi ro của Bộ Công Thương là ví dụ cho phần nghĩa vụ này.
13. Câu hỏi thường gặp
Dự thảo đã có hiệu lực chưa?
Chưa. Dự thảo đang ở giai đoạn lấy ý kiến và thẩm định, tạm mang số hiệu TCVN xxxx:2026; nội dung có thể thay đổi trước khi công bố.
Tiêu chuẩn này có bắt buộc áp dụng không?
Tiêu chuẩn quốc gia áp dụng tự nguyện. Nghĩa vụ bắt buộc, nếu có, đến từ các văn bản quản lý về dán nhãn năng lượng và mức hiệu suất năng lượng tối thiểu cho từng nhóm sản phẩm, cùng các quy định về công bố hợp quy.
CSPF khác gì so với các chỉ số hiệu suất quen thuộc?
CSPF là hệ số hiệu quả mùa làm lạnh, được tính theo mùa với nhiều chế độ tải và nhiệt độ khác nhau, thay vì chỉ một điểm làm việc danh định. Vì vậy nó phản ánh sát hơn hiệu suất thực tế của thiết bị, đặc biệt là thiết bị có biến tần.
Cấp 1 có phải là cấp tốt nhất không?
Không. Trong dự thảo này, cấp 1 là cấp hiệu suất thấp nhất và là cơ sở để xác định mức hiệu suất năng lượng tối thiểu; cấp 5 là cấp cao nhất.
Các con số trong bài đã là cuối cùng chưa?
Chưa. Bài viết ghi lại nội dung và các ngưỡng có trong dự thảo tại thời điểm phân tích; khi tiêu chuẩn được ban hành, cần đối chiếu với văn bản chính thức.
14. Đọc kèm
- Danh mục sản phẩm phải dán nhãn năng lượng tại Việt Nam: văn bản hiện hành và lộ trình
- Thông tư 33/2026/TT-BCT: danh mục hàng hóa rủi ro trung bình, rủi ro cao của Bộ Công Thương
- Chọn phòng thử nghiệm phù hợp để tuân thủ pháp luật Việt Nam
- TCVN 14538:2025: hệ thống truyền tin báo cháy, phạm vi và yêu cầu chính
- Dự thảo TCVN về NIPS: yêu cầu chung cho sản phẩm phòng, chống xâm nhập lớp mạng
15. Nguồn tham khảo
- Dự thảo TCVN xxxx:2026, “Máy điều hòa không khí bán thương mại – Hiệu suất năng lượng”, do Tiểu Ban kỹ thuật Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN/TC/E1/SC5 “Hiệu suất năng lượng của thiết bị lạnh” biên soạn, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm định và Bộ Khoa học và Công nghệ công bố. Dự thảo chưa có hiệu lực áp dụng; bài viết tóm tắt nội dung, không sao chép nguyên văn toàn bộ điều khoản.
- Các tiêu chuẩn được dự thảo viện dẫn: TCVN 6576:2020 (ISO 5151:2017); TCVN 6577:2020 (ISO 13253:2017); TCVN 10273-1:2013 (ISO 16358-1:2013).
- Các quy định liên quan về dán nhãn năng lượng và danh mục hàng hóa rủi ro tại Việt Nam.
16. Liên hệ
Doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu và phân phối máy điều hòa không khí, cùng các đơn vị đang xây dựng hồ sơ thử nghiệm hiệu suất năng lượng, có thể gửi yêu cầu qua biểu mẫu dưới đây để trao đổi về phạm vi áp dụng, lựa chọn tiêu chuẩn thử và hồ sơ cần chuẩn bị trước thời điểm tiêu chuẩn được ban hành.
Bài viết phân tích một dự thảo tiêu chuẩn chưa được ban hành, chỉ nhằm mục đích thông tin, không thay thế tiêu chuẩn và không thay thế tư vấn kỹ thuật, pháp lý cho từng trường hợp cụ thể. Nội dung dự thảo có thể thay đổi trước khi công bố; các số liệu, ngưỡng nêu trong bài là những nội dung có trong dự thảo tại thời điểm phân tích. Khi tiêu chuẩn được ban hành, đề nghị sử dụng văn bản chính thức cùng các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực.


![[Việt Nam] Kiểm tra chất lượng hàng điện tử nhập khẩu (NĐ 37/2026) Kiện hàng thiết bị điện tử trên băng tải tại khu vực kiểm tra](https://ticforall.com/wp-content/uploads/2026/10/cover-b2-218x150.jpg)
![[Việt Nam] Dự thảo TCVN về xác định các nguyên tố trong nền mẫu rắn môi trường bằng ICP-MS (ISO 16965:2025) Phòng thí nghiệm phân tích hiện đại với thiết bị ICP-MS để bàn, ngọn plasma xanh phát sáng qua cửa sổ quan sát và các lọ mẫu trên bàn, không chữ, không người](https://ticforall.com/wp-content/uploads/2026/10/p16965-du-thao-bia-1600x1067-1-218x150.jpg)
![[Việt Nam] Dự thảo TCVN về khung quyền riêng tư (ISO/IEC 29100:2024): bốn vai, mười một nguyên tắc Biểu tượng khiên có ổ khóa phát sáng xanh trên nền tối, xung quanh là các dòng dữ liệu ẩn danh mờ ảo, không chữ, không người](https://ticforall.com/wp-content/uploads/2026/10/p29100-du-thao-bia-1600x1067-1-218x150.jpg)
![[Việt Nam] QCVN 32:2026/BCT – Quy chuẩn trụ sạc, trạm sạc xe điện: phân tích và những việc cần chuẩn bị trước 01/7/2027 Khu vực sạc xe điện ngoài trời gồm một trụ sạc xoay chiều và một tủ sạc nhanh một chiều đặt cạnh ô đỗ có vạch sơn](https://ticforall.com/wp-content/uploads/2026/10/pTT61-bia-1600x1067-1-100x70.jpg)




