TICForAll — Thử nghiệm, Giám định, Chứng nhận
Home Theo Bộ/ngành Bộ Khoa học & Công nghệ Dự thảo TCVN 7830 (lần 5): hiệu suất năng lượng máy...

[Việt Nam] Dự thảo TCVN 7830 (lần 5): hiệu suất năng lượng máy điều hòa không khí không ống gió

Dàn lạnh điều hòa âm trần nối ống gió đặt trong trần thạch cao, có ống gió mềm bọc cách nhiệt và hai miệng gió tròn, không chữ, không người

Dự thảo tiêu chuẩn quốc gia về hiệu suất năng lượng của máy điều hòa không khí không ống gió hiện đang ở giai đoạn lấy ý kiến. Văn bản tạm mang số hiệu TCVN 7830:xxxx, ghi “Xuất bản lần 5”, và theo Lời nói đầu thì sẽ thay thế TCVN 7830:2021. Tên tiêu chuẩn là “Máy điều hòa không khí không ống gió – Hiệu suất năng lượng”, do Tiểu Ban kỹ thuật Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN/TC/E1/SC5 “Hiệu suất năng lượng của thiết bị lạnh” biên soạn, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm định và Bộ Khoa học và Công nghệ công bố. Đây là tiêu chuẩn nền cho việc dán nhãn năng lượng và xác định mức hiệu suất năng lượng tối thiểu đối với điều hòa không khí gia dụng tại Việt Nam, nên bản sửa đổi này có ảnh hưởng trực tiếp tới gần như toàn bộ mặt hàng điều hòa treo tường đang bán trên thị trường.

1. Dự thảo lần thứ 5 này là gì

TCVN 7830 là tiêu chuẩn cũ, đã qua nhiều lần sửa đổi, và bản này là lần xuất bản thứ 5. Dự thảo gồm bảy trang, sáu điều, hai bảng số và một lưu ý. Cấu trúc quen thuộc của nhóm tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng: phạm vi áp dụng, tài liệu viện dẫn, thuật ngữ, yêu cầu kỹ thuật, phương pháp xác định, báo cáo kết quả.

Điểm khiến bản này khác các lần sửa đổi trước nằm ở Điều 4.2 và phần bảng: dự thảo đưa ra hai phương án bảng xếp cấp hiệu suất năng lượng và ghi rõ các đơn vị được gửi lấy ý kiến sẽ cho ý kiến lựa chọn Bảng 1 hay Bảng 2 là bảng chính thức. Trong cả hai bảng, phần chữ màu đỏ bị gạch ngang là nội dung quy định trong TCVN 7830:2021, được giữ lại để người đọc tiện so sánh giữa bản mới và bản cũ.

Cần nhấn mạnh ngay từ đầu: đây là dự thảo, chưa có hiệu lực, và các con số dưới đây là nội dung có trong dự thảo tại thời điểm phân tích, không phải quy định đang áp dụng.

2. Vì sao bản sửa đổi này đáng chú ý

Ba lý do. Thứ nhất, ngưỡng hiệu suất trong dự thảo cao hơn đáng kể so với nội dung TCVN 7830:2021 được in đỏ gạch ngang ngay trong bảng, nghĩa là nếu dự thảo được ban hành gần như nguyên trạng, nhiều mẫu điều hòa đang lưu hành sẽ không còn đạt mức tối thiểu. Thứ hai, dự thảo chuyển cách chia dải năng suất lạnh: bản cũ dùng các mốc dạng 15 000 / 24 000 / 41 000 trong ngoặc đỏ, còn bản mới dùng mốc 4 500 W / 7 100 W / 12 000 W. Thứ ba, việc lựa chọn Bảng 1 hay Bảng 2 không phải chi tiết kỹ thuật nhỏ: hai bảng chênh nhau tới vài phần mười CSPF ở mọi dòng, tức là tương đương việc siết thêm một bậc hiệu suất.

3. Vị trí của TCVN 7830 trong bức tranh dán nhãn năng lượng

Tiêu chuẩn quốc gia là nền kỹ thuật: nó quy định mức hiệu suất và phương pháp xác định, còn nghĩa vụ dán nhãn năng lượng và mức hiệu suất năng lượng tối thiểu bắt buộc đến từ các văn bản quản lý tương ứng. Do đó, dự thảo này nên được đọc cùng danh mục sản phẩm phải dán nhãn năng lượng tại Việt Nam để biết mặt hàng điều hòa đang chịu nghĩa vụ nào, và cùng các quy định về chứng nhận, công bố hợp quy cùng kiểm tra chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu.

4. Quan hệ với dự thảo TCVN về điều hòa bán thương mại

Song song với bản sửa đổi này còn có một dự thảo khác về hiệu suất năng lượng máy điều hòa không khí bán thương mại, phạm vi tới 18 000 W. Hai dự thảo này là một cặp: dự thảo bán thương mại loại trừ các máy điều hòa thuộc phạm vi áp dụng của TCVN 7830, còn dự thảo lần 5 này xác định chính phạm vi đó. Đối chiếu hai văn bản cho thấy ranh giới khá rõ: nhóm không ống gió, công suất đến 12 000 W (41 000 BTU/h), một hoặc hai cụm, một pha thuộc TCVN 7830; nhóm bán thương mại nằm ở phần còn lại trong giới hạn 18 000 W. Nhóm biên dịch hai dự thảo nên làm việc này cùng lúc, vì đây chính là điểm mà dự thảo bán thương mại để ngỏ khi dẫn “TCVN 7830:xxxx” mà không ghi năm công bố.

5. Phạm vi áp dụng

Dự thảo quy định mức hiệu suất năng lượng và phương pháp xác định hiệu suất năng lượng cho máy điều hòa không khí không ống gió sử dụng máy nén-động cơ kiểu kín và giàn ngưng tụ làm mát bằng không khí, một cụm hoặc hai cụm, có hoặc không có biến tần, có năng suất lạnh danh định đến 12 000 W (41 000 BTU/h).

Bốn đặc điểm cần nắm: máy nén-động cơ kiểu kín; giàn ngưng tụ làm mát bằng không khí; loại một cụm hoặc hai cụm; giới hạn năng suất lạnh danh định đến 12 000 W.

Phần loại trừ dài hơn phần phạm vi, và đây là điểm doanh nghiệp hay nhầm: tiêu chuẩn không áp dụng cho máy điều hòa làm mát bằng nước, loại có ống gió, loại xách tay, loại đứng sàn, loại âm trần, loại áp trần, các máy điều hòa nhiều hơn hai cụm, và các máy điều hòa sử dụng điện ba pha. Nói cách khác, phạm vi được khoanh hẹp vào nhóm điều hòa không ống gió dùng điện một pha cho gia dụng và không gian nhỏ.

Lưu ý một chỗ lệch nhỏ về thuật ngữ: Điều 1 gọi đối tượng là “máy điều hòa không khí không ống gió”, còn phần lưu ý ở Điều 4.2 nói bảng được chọn sẽ áp dụng “cho các máy điều hòa không khí gia dụng”. Hai cách gọi này không hoàn toàn trùng nhau, và khi trích dẫn nên theo cách gọi ở Điều 1.

6. Cấu trúc dự thảo

Dự thảo gồm sáu điều: Điều 1 phạm vi áp dụng; Điều 2 tài liệu viện dẫn; Điều 3 thuật ngữ và định nghĩa; Điều 4 yêu cầu kỹ thuật; Điều 5 phương pháp xác định; Điều 6 báo cáo kết quả. Không có phụ lục. Với người làm hồ sơ, Điều 4 cho biết phải đạt gì, Điều 5 cho biết đo thế nào, Điều 6 cho biết báo cáo phải ghi gì: ba điều này là ba phần của một bộ hồ sơ thử nghiệm.

7. Tài liệu viện dẫn

Dự thảo viện dẫn hai tiêu chuẩn, đều ghi năm công bố:

  • TCVN 6576:2020 (ISO 5151:2017), Máy điều hoà không khí và bơm nhiệt không ống gió – Thử và xác định thông số tính năng;
  • TCVN 10273-1:2013 (ISO 16358-1:2013), Máy điều hoà không khí giải nhiệt gió và bơm nhiệt gió-gió – Phương pháp thử và tính toán các hệ số hiệu quả mùa – Phần 1: Hệ số hiệu quả mùa làm lạnh.

So với dự thảo điều hòa bán thương mại, ở đây không có TCVN 6577 dành cho loại có ống gió, phù hợp với phạm vi hẹp hơn của TCVN 7830. Cách tiếp cận vẫn là “mượn” trọn bộ phương pháp thử đã có và chỉ ấn định thêm mức hiệu suất.

8. Thuật ngữ: năng suất lạnh và CSPF

Điều 3 dẫn các định nghĩa trong hai tiêu chuẩn viện dẫn và bổ sung hai định nghĩa.

Năng suất lạnh (cooling capacity) là tổng nhiệt hiện và nhiệt ẩn mà thiết bị có thể lấy đi khỏi một không gian được điều hòa nhất định trong một thời gian xác định, biểu thị bằng oát (W).

Hiệu suất năng lượng (Energy Efficiency) của máy điều hòa không khí được xác định bằng hệ số hiệu quả mùa làm lạnh, ký hiệu CSPF, và dự thảo ghi rõ nguồn định nghĩa này là TCVN 10273-1:2013 (ISO 16358-1:2013), mục 3.4. Điều này xác nhận cách tiếp cận theo mùa: tính đến nhiều chế độ tải và nhiệt độ trong cả mùa làm lạnh, thay vì một điểm làm việc danh định.

9. Yêu cầu về năng suất lạnh và công suất điện đầy tải

Điều 4.1 gồm hai yêu cầu, giống nguyên văn về ý nghĩa so với dự thảo điều hòa bán thương mại:

  • Năng suất lạnh phải lớn hơn hoặc bằng 95 % năng suất lạnh do nhà chế tạo công bố;
  • Công suất điện đầy tải phải nằm trong phạm vi ± 10 % công suất điện danh định do nhà chế tạo công bố.

Hai ngưỡng này có vai trò chống “đánh bóng” chỉ số: ngưỡng 95 % ngăn công bố năng suất lạnh cao hơn thực tế, còn khoảng ± 10 % chặn việc công bố công suất tiêu thụ thấp hơn thực tế. Chỉ khi hai số liệu đo nằm trong hai ngưỡng này thì chỉ số CSPF tính ra mới đáng tin và mới so sánh được với các cấp trong bảng.

10. Năm cấp hiệu suất và cách đọc hai bảng

Điều 4.2 chia hiệu suất năng lượng của thiết bị thành năm cấp. Ứng với các cấp từ 1 đến 5, hiệu suất năng lượng không được nhỏ hơn giá trị quy định trong bảng; cấp 1 là cấp có hiệu suất thấp nhất và là cơ sở để xác định mức hiệu suất năng lượng tối thiểu (MEPS); cấp 5 là cấp cao nhất.

Có hai bảng với cùng cách bố trí: cột “Kiểu thiết bị” (một cụm hoặc hai cụm), cột “Năng suất lạnh danh định” và năm cột cấp. Riêng kiểu một cụm không chia dải năng suất lạnh mà dùng chung một bộ giá trị. Kiểu hai cụm chia thành ba dải. Trong mỗi ô của dự thảo có hai số: số in đỏ gạch ngang là giá trị của TCVN 7830:2021, số còn lại là giá trị mới đề xuất. Các bảng dưới đây chỉ ghi giá trị mới, và phần so sánh với bản cũ được trình bày ở mục 13.

11. Bảng 1 – Lựa chọn 1

Kiểu thiết bị Năng suất lạnh danh định Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Cấp 4 Cấp 5
Một cụm không phân dải ≥ 3,40 ≥ 3,60 ≥ 3,80 ≥ 4,00 ≥ 4,20
Hai cụm < 4 500 W ≥ 3,70 ≥ 4,10 ≥ 4,60 ≥ 5,20 ≥ 5,80
Hai cụm 4 500 W ≤ φ < 7 100 W ≥ 3,60 ≥ 4,10 ≥ 4,60 ≥ 5,10 ≥ 5,60
Hai cụm 7 000 W ≤ φ < 12 000 W ≥ 3,40 ≥ 3,90 ≥ 4,40 ≥ 4,90 ≥ 5,40
Bảng 1 của dự thảo (Lựa chọn 1): ngưỡng CSPF theo cấp hiệu suất năng lượng, đã lược bỏ phần nội dung TCVN 7830:2021 in đỏ gạch ngang

12. Bảng 2 – Lựa chọn 2

Kiểu thiết bị Năng suất lạnh danh định Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Cấp 4 Cấp 5
Một cụm không phân dải ≥ 3,60 ≥ 3,80 ≥ 4,00 ≥ 4,20 ≥ 4,60
Hai cụm < 4 500 W ≥ 4,00 ≥ 4,50 ≥ 5,00 ≥ 5,50 ≥ 6,00
Hai cụm 4 500 W ≤ φ < 7 100 W ≥ 3,80 ≥ 4,30 ≥ 4,80 ≥ 5,30 ≥ 5,80
Hai cụm 7 000 W ≤ φ < 12 000 W ≥ 3,60 ≥ 4,10 ≥ 4,60 ≥ 5,10 ≥ 5,60
Bảng 2 của dự thảo (Lựa chọn 2): cùng cách bố trí nhưng ngưỡng cao hơn Bảng 1 ở hầu hết các dòng và các cấp

13. So sánh hai lựa chọn và mức thay đổi so với TCVN 7830:2021

Bảng dưới đây đặt cạnh nhau ngưỡng cấp 1 của hai lựa chọn và ngưỡng tương ứng trong TCVN 7830:2021 (lấy từ phần nội dung in đỏ gạch ngang của dự thảo). Cấp 1 là cấp quan trọng nhất vì dự thảo nêu rõ đây là cơ sở xác định MEPS.

Kiểu thiết bị Ngưỡng cấp 1 theo TCVN 7830:2021 Ngưỡng cấp 1 – Lựa chọn 1 Ngưỡng cấp 1 – Lựa chọn 2
Một cụm ≥ 2,80 ≥ 3,40 ≥ 3,60
Hai cụm, < 4 500 W ≥ 3,10 ≥ 3,70 ≥ 4,00
Hai cụm, 4 500 W đến dưới 7 100 W ≥ 3,00 ≥ 3,60 ≥ 3,80
Hai cụm, 7 000 W đến 12 000 W ≥ 2,80 ≥ 3,40 ≥ 3,60
So sánh ngưỡng cấp 1 (cơ sở xác định MEPS) giữa TCVN 7830:2021 và hai lựa chọn trong dự thảo

Ba nhận xét rút ra trực tiếp từ các con số. Thứ nhất, Lựa chọn 2 luôn cao hơn Lựa chọn 1, mức chênh khoảng 0,20 đến 0,30 CSPF ở cấp 1 tùy dòng, tương đương một bậc hiệu suất. Thứ hai, ở cả hai lựa chọn, ngưỡng cấp 1 mới đều cao hơn ngưỡng cấp 3 của TCVN 7830:2021 ở mọi dòng; nghĩa là thiết bị đang xếp ở cấp 2 hoặc 3 theo bản cũ sẽ không đạt mức tối thiểu mới nếu tiêu chuẩn ban hành gần như nguyên trạng. Với kiểu một cụm, ngưỡng cấp 1 mới (3,40 hoặc 3,60) nằm đúng khoảng giữa cấp 4 (3,40) và cấp 5 (3,60) của bản cũ. Thứ ba, với kiểu hai cụm dải nhỏ dưới 4 500 W, dự thảo đề xuất ngưỡng cao nhất trong tất cả các dòng, phản ánh việc các máy công suất nhỏ thường có CSPF cao hơn.

14. Phương pháp xác định

Dàn lạnh điều hòa treo tường đặt trong buồng thử kín có cảm biến và dây đo nhiệt độ, ánh sáng xanh lam, không chữ

Điều 5 quy định ba việc và một ngoại lệ:

  • Các phép thử được thực hiện trong điều kiện thử nghiệm T1 quy định trong TCVN 6576:2020 (ISO 5151:2017);
  • Năng suất lạnh của thiết bị được xác định theo TCVN 6576:2020 (ISO 5151:2017);
  • Hiệu suất năng lượng được xác định theo TCVN 10273-1:2013 (ISO 16358-1:2013).

Điều kiện T1 là điều kiện chuẩn cho thiết bị giải nhiệt gió, quen thuộc với các phòng thử ở Việt Nam. Ngoại lệ được nêu tiếp: đối với thiết bị loại có năng suất lạnh cố định, cho phép chỉ thử nghiệm hiệu suất năng lượng ở chế độ năng suất lạnh tiêu chuẩn mà không phải thử ở chế độ năng suất lạnh nhiệt độ thấp; khi đó giá trị hiệu suất năng lượng được tính bằng kết quả thử ở chế độ năng suất lạnh tiêu chuẩn nhân với hệ số 1,062. Đây là quy định đáng chú ý với cả doanh nghiệp và phòng thử, vì nó cho phép giảm một phép thử nhưng đòi hỏi áp dụng đúng hệ số quy đổi; dùng sai hệ số sẽ làm chỉ số CSPF lệch khoảng 6 % và có thể đẩy kết quả qua hoặc không qua ngưỡng xếp cấp.

15. Báo cáo kết quả

Bàn thử nghiệm với máy phân tích công suất, đồng hồ đo, đầu dò và máy tính hiển thị biểu đồ bậc trừu tượng, không chữ

Điều 6 nêu các thông tin tối thiểu của báo cáo thử nghiệm:

  • Các giá trị công suất điện vào P50 % (trong trường hợp áp dụng) và P100 %;
  • Các giá trị năng suất lạnh ở mức 50 % (trong trường hợp áp dụng) và 100 %;
  • Chỉ số hiệu suất năng lượng CSPF, làm tròn đến hai chữ số thập phân.

Yêu cầu công bố cả hai mức tải phù hợp với cách tính CSPF theo mùa; với thiết bị năng suất lạnh cố định đã dùng hệ số 1,062 ở Điều 5, phần “trong trường hợp áp dụng” cho phép báo cáo chỉ gồm kết quả ở chế độ tiêu chuẩn. Quy tắc làm tròn hai chữ số thập phân giúp kết quả giữa các phòng thử so sánh trực tiếp được với ngưỡng trong bảng.

16. Năm điểm cần lưu ý khi đọc dự thảo

Thứ nhất, chưa chốt bảng nào. Dự thảo đưa ra hai phương án và hỏi ý kiến các đơn vị. Kết quả lấy ý kiến về Bảng 1 hay Bảng 2 sẽ quyết định mức siết thực tế, nên doanh nghiệp có quyền và nên có ý kiến ở bước này.

Thứ hai, Điều 4.2 chỉ dẫn tới Bảng 1. Câu “hiệu suất năng lượng không được nhỏ hơn giá trị quy định trong Bảng 1” trong khi phần lưu ý lại nói các đơn vị sẽ chọn Bảng 1 hay Bảng 2. Đây là chỗ cần sửa về mặt biên tập để tránh hiểu sai khi áp dụng.

Thứ ba, hai dải năng suất lạnh chồng lấn. Dải thứ hai là “4 500 ≤ φ < 7 100” và dải thứ ba là “7 000 ≤ φ < 12 000”; khoảng từ 7 000 W đến dưới 7 100 W thuộc cả hai dải. Với thiết bị rơi đúng khoảng này, người thử không biết dùng ngưỡng nào. Nhiều khả năng lỗi do chuyển từ mốc BTU/h sang W (24 000 BTU/h tương đương khoảng 7 030 W), và mốc đúng nhiều khả năng là 7 000 W cho cả hai dải.

Thứ tư, số hiệu còn để trống và có chỗ ghi không thống nhất. Trang đầu và các trang trong ghi “TCVN 7830:xxxx”, còn Lời nói đầu có câu “TCVN 7830:xxx”. Chi tiết nhỏ nhưng cần thống nhất trước khi công bố.

Thứ năm, các mốc trong ngoặc đỏ. Dải cũ được ghi bằng các mốc 15 000 / 24 000 / 41 000 (đơn vị BTU/h), trong khi cột “Năng suất lạnh danh định” đơn vị ghi là W. Khi so sánh bản cũ và bản mới, cần đổi đơn vị trước khi kết luận, tránh nhầm 4 500 W với 4 500 BTU/h.

17. Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì

Với nhà sản xuất và nhà nhập khẩu điều hòa không ống gió đến 12 000 W, bốn việc nên làm sớm: xác định sản phẩm thuộc kiểu một cụm hay hai cụm và thuộc dải năng suất lạnh nào; lấy chỉ số CSPF hiện có và đối chiếu với cả hai bảng để biết sản phẩm còn đạt cấp 1 hay không; rà lại khả năng công bố năng suất lạnh và công suất điện đầy tải theo hai ngưỡng 95 % và ± 10 %; và theo dõi kết quả lấy ý kiến để biết bảng nào được chọn, vì chênh lệch giữa hai bảng tương đương một bậc hiệu suất.

Với phòng thử nghiệm, ba điểm cần soát: năng lực thử theo TCVN 6576:2020 ở điều kiện T1; năng lực tính CSPF theo TCVN 10273-1:2013, kể cả trường hợp áp dụng hệ số 1,062 cho thiết bị năng suất lạnh cố định; và mẫu báo cáo thử nghiệm đủ các mục tại Điều 6 với quy tắc làm tròn hai chữ số thập phân.

Với đơn vị tư vấn và làm hồ sơ, cần đặt dự thảo này đúng vị trí trong chuỗi nghĩa vụ: điều hòa không khí không chỉ chịu yêu cầu về hiệu suất năng lượng mà còn về an toàn điện và tương thích điện từ, cùng các nghĩa vụ công bố hợp quy theo danh mục hàng hóa rủi ro. Ví dụ về hàng hóa rủi ro cao phải thử nghiệm theo QCVN 4 cho thấy phần nghĩa vụ này vận hành độc lập với hiệu suất năng lượng. Cách chọn phòng thử và hồ sơ đúng cũng quan trọng không kém, như đã trình bày ở bài chọn phòng thử nghiệm phù hợp để tuân thủ pháp luật Việt Nam, và bối cảnh đánh giá sự phù hợp theo Nghị định 22/2026/NĐ-CP là khung chung cho các bước này.

18. Câu hỏi thường gặp

Dự thảo đã có hiệu lực chưa?

Chưa. Dự thảo đang ở giai đoạn lấy ý kiến, tạm mang số hiệu TCVN 7830:xxxx; nội dung có thể thay đổi trước khi công bố và chưa có giá trị áp dụng.

Bản này thay thế bản nào?

Theo Lời nói đầu, TCVN 7830:xxxx thay thế TCVN 7830:2021, và đây là lần xuất bản thứ 5.

Sản phẩm của tôi thuộc TCVN 7830 hay dự thảo bán thương mại?

Nếu là điều hòa không ống gió, một hoặc hai cụm, dùng điện một pha, năng suất lạnh danh định đến 12 000 W thì thuộc phạm vi TCVN 7830. Các loại có ống gió, xách tay, đứng sàn, âm trần, áp trần, nhiều hơn hai cụm hoặc dùng điện ba pha bị loại trừ khỏi tiêu chuẩn này.

Cấp 1 có phải cấp tốt nhất không?

Không. Trong dự thảo, cấp 1 là cấp hiệu suất thấp nhất và là cơ sở xác định mức hiệu suất năng lượng tối thiểu; cấp 5 là cấp cao nhất.

Vì sao trong bảng có số in đỏ gạch ngang?

Đó là nội dung quy định trong TCVN 7830:2021, được giữ lại để tiện so sánh giữa bản mới và bản cũ. Khi áp dụng, chỉ dùng các giá trị không gạch ngang.

Các con số trong bài đã là cuối cùng chưa?

Chưa. Bài viết ghi lại nội dung và các ngưỡng có trong dự thảo tại thời điểm phân tích; khi tiêu chuẩn được ban hành, cần đối chiếu với văn bản chính thức.

19. Đọc kèm

20. Nguồn tham khảo

  • Dự thảo TCVN 7830:xxxx (xuất bản lần 5), “Máy điều hòa không khí không ống gió – Hiệu suất năng lượng”, do Tiểu Ban kỹ thuật Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN/TC/E1/SC5 “Hiệu suất năng lượng của thiết bị lạnh” biên soạn, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm định và Bộ Khoa học và Công nghệ công bố. Dự thảo chưa có hiệu lực áp dụng; bài viết tóm tắt nội dung, không sao chép nguyên văn toàn bộ điều khoản.
  • Tiêu chuẩn bị thay thế: TCVN 7830:2021.
  • Các tiêu chuẩn được dự thảo viện dẫn: TCVN 6576:2020 (ISO 5151:2017); TCVN 10273-1:2013 (ISO 16358-1:2013).
  • Các quy định liên quan về dán nhãn năng lượng, chứng nhận và công bố hợp quy tại Việt Nam.

21. Liên hệ

Doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu và phân phối máy điều hòa không khí không ống gió, cùng các phòng thử nghiệm và đơn vị tư vấn đang xây dựng hồ sơ hiệu suất năng lượng, có thể gửi yêu cầu qua biểu mẫu dưới đây để trao đổi về phạm vi áp dụng, cách đối chiếu CSPF với hai bảng, lựa chọn tiêu chuẩn thử và các bước chuẩn bị trước khi tiêu chuẩn được ban hành.

    Bài viết phân tích một dự thảo tiêu chuẩn chưa được ban hành, chỉ nhằm mục đích thông tin, không thay thế tiêu chuẩn và không thay thế tư vấn kỹ thuật, pháp lý cho từng trường hợp cụ thể. Nội dung dự thảo có thể thay đổi trước khi công bố; các số liệu, ngưỡng nêu trong bài là những nội dung có trong dự thảo tại thời điểm phân tích. Khi tiêu chuẩn được ban hành, đề nghị sử dụng văn bản chính thức cùng các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực.